Mục Lục
TIỂU SỬ Tổ Sư Đỗ Thuần Hậu.............................. 3
Đời Đạo Song Tu................................................. 5
SẤM TU HÀNH.............................................................90
Phép Xuất Hồn................................................ 101
Lời Tường Thuật Về Sự Xuất Hồn ................................107
của Tổ Sư Đỗ Thuần Hậu............................................107
Lời Tường Thuật .........................................................154
của Thiền Sư Lương Sĩ Hằng – Vĩ Kiên .........................154
Mơ Duyên Quái Mộng..................................... 167
HỒI THỨ NHẤT .........................................................169
HỒI THỨ HAI.............................................................181
HỒI THỨ BA ..............................................................189
HỒI THỨ TƯ ..............................................................195
HỒI THỨ NĂM...........................................................203
Tình Trong Bốn Bể........................................... 211
(Điểu Sào Thiền Sư)......................................... 211
HỒI THỨ NHẤT .........................................................215
HỒI THỨ HAI.............................................................237
HỒI THỨ BA ..............................................................245
HỒI THỨ TƯ ..............................................................249
HỒI THỨ NĂM...........................................................257
HỒI THỨ SÁU ............................................................259
HỒI THỨ BẢY.............................................................273
ii | Đỗ Thuần Hậu
Tuyển Tập Đỗ Thuần Hậu | iii
Tổ sư Đỗ Thuần Hậu sinh năm 1883 tại quận Lai
Vung, tỉnh Sa Đéc, Việt Nam. Thân phụ là cụ Đỗ Hạo
Cừu, Phó Tổng An Thới dưới thời Pháp thuộc, thọ
được 80 tuổi mới qua đời. Thân mẫu là cụ Đào Thị
Bòi. Lúc lên 9 thì mẹ mất, ông phải ở với cha và bà
kế mẫu cho đến khi lớn.
Sau khi lập gia đình được vài năm, ông mới tách
ra ở riêng. Cũng vì hoàn cảnh khổ sở thời đó, ông
phải học nhiều nghề để sinh sống và nuôi gia đình.
Tổ sư đã học qua các nghề thuốc Bắc, thuốc Nam,
làm bùa Lỗ Ban, coi quẻ, thợ mả, thợ nhuộm, thợ
sơn... Khi sửa soạn lập gia đình ông phải đi dạy thêm
tiếng Việt và tiếng Pháp cho trẻ em trong làng để có
tiền lấy vợ. Tổ sư có được 8 người con: 1 trai và 7
gái. Người con trai trưởng của tổ sư là ông Đỗ Vạn
Lý, từng là Sứ Thần tại Ấn Độ và cựu Đại Sứ tại Hoa
Kỳ dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông cũng
từng giữ chức Tham lý Minh Đạo trong cơ quan Phổ
Thông Giáo lý Cao Đài Giáo, Việt Nam. Vì lúc thiếu
thời, tổ sư Đỗ Thuần Hậu gặp nhiều hoàn cảnh éo le,
nên tâm trí ông lúc nào cũng suy xét về cuộc đời và
4 | Đỗ Thuần Hậu
kiếp người. Do đó, ông quyết tâm tầm đạo. Sau khi
tu theo Cao Minh Thiền Sư một thời gian, ông vẫn
chưa hoàn toàn hài lòng vì vẫn chưa được giải đáp
hết thắc mắc. Tổ sư trở về gia đình và tự nghiên cứu
thêm Pháp lý Vô Vi. Trong thời gian này, nhiều lúc tổ
sư định thần và thường thấy hình Đức Phật hiện ra
trên vách. Tổ sư lấy làm lạ nên càng cố tâm tu luyện.
Lúc khởi công tu thì tổ sư đã 55 tuổi, tâm không sợ
chết, sợ nghèo đói, tổ sư quyết chí tu để xuyên phá
bức màn Vô Vi bí mật hầu tiếp xúc với Phật Tiên mà
học Đạo. Nhờ lòng chí thành mộ Đạo, tổ sư Đỗ
Thuần Hậu đã ngộ được Pháp lý Vô Vi Khoa Học
Huyền Bí Phật Pháp. Tổ sư đã xuất hồn về cõi Vô Vi
và đã được học đạo trực tiếp với Đức Phật như lời tổ
sư đã tự thuật trong quyển "Phép Xuất Hồn".
Tổ sư Đỗ Thuần Hậu (thường được gọi là ông Tư)
đã truyền dạy lại cho thiền sư Lương Sĩ Hằng
(thường được gọi là ông Tám) để tiếp nối công việc
truyền bá đạo pháp. Tổ sư liễu đạo ngày 13-11-1967
(nhằm ngày 12 tháng 10 năm Đinh Mùi) thọ 84 tuổi
(85 tuổi ta).
Các tác phẩm của tổ sư để lại là Đời Đạo Song
Tu, Phép Xuất Hồn, Mơ Duyên Quái Mộng, Tình
Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư), Kinh A DI ĐÀ.
| 5
Đời Đạo Song Tu
6 | Đỗ Thuần Hậu
Đời Đạo Song Tu | 7
Tựa
Tôi là Đỗ Thuần Hậu, 78 tuổi ở Sa Đéc. Thưa các
bạn, trước khi tôi đặt lời nói trên bản sách này, tôi
không ngần ngại về sự hèn nhát, dơ bẩn, những phê
bình chỉ trích vì chỗ cư trần nhiễm trần. Trong trần
thế lấy sự vật chất hiện tại, còn đây nói về vô vi
thuộc về phần hồn của Đạo. Hồn là thiêng liêng còn
Đạo thì sâu xa vô cực vô biên cũng là Điện quang,
bởi thế nào ai thấy đặng, nên cũng như một người
nói láo để gạt gẫm các bạn. Nhưng tôi không ngần
ngại xấu xa ấy để lượm lặt nhiều kinh, nhiều sấm,
đem những lời nói thiết thật sau đây mà tôi cũng
không tin tôi là sự thật nữa. Khi các bạn công phu
theo mấy đề mục tôi sẽ biếu, chịu khó trong một
năm thì các bạn sẽ thấy những lời tôi nói ấy, thì sự
hiệu quả hiện tại nó sẽ đi đến cho các bạn, còn công
phu không hiệu quả thì không cần công phu nữa.
Trong mục lục công phu này có hiệu quả như
sau:
1. Những người lao động mỏi, mệt nhọc trở nên
khỏe khoắn.
2. Những thanh niên thanh nữ bận rộn, bực tức
thì được sáng láng minh mẫn hơn.
8 | Đỗ Thuần Hậu
3. Công phu trong lúc ban đêm mất thì giờ chút
ít, sáng đi làm việc lại khỏe khoắn hơn, đủ sức khỏe,
dồi dào cũng như uống một thang thuốc bổ. Có sức
lực vì nhờ sự hấp dẫn dưỡng khí thanh.
4. Công phu làm cho điện quang là một khí
nóng trong ngũ tạng sẽ thông cảm bản thể, cũng nhờ
dưỡng thanh khí trong sạch để làm cho điện quang
bản thể sức khỏe dồi dào, có sức mạnh, điện được
xung lên bộ đầu soi sáng 9 lỗ gọi là Cửu Khiếu rộng
ra, không lố bịch. Sự nóng giận tham sân si mỗi mỗi
đều do sự nóng của bản thể bị nghẹt không thông
cảm, các bạn lúc Điện khí bị nghẹt thì giận thêm,
tham muốn tăng thêm.
Nhờ công phu vận động bề ngoài bản thể nào là
Soi Hồn, Pháp Luân, Tịnh; còn bề trong nhờ 6 chữ Di
Đà phối hợp với dưỡng khí và Thanh Điển của Trời
thì điện có sức mạnh rút sự lố bịch của trí não ta,
tâm tánh đều mát mẻ khỏe khoắn. Nhờ pháp này thì
chúng ta được hết sự Sân Si Tham, trở nên một hiền
triết. Muốn cho không nhờ ai phù hộ ta, bởi thế Đức
Phật truyền phép Lục Tự Di Đà để cứu các chứng
bịnh ấy, nhưng tôi rút sự kinh nghiệm của pháp này
tôi suy nghĩ cũng chưa ra. Một lúc tôi nhớ lại đời Tần
Thủy Hoàng đã đốt sách nhà Phật, sau nhờ mấy vị
hiền triết đem lại bộ kinh A Di Đà là một lời của Phật
Di Đà nói lúc ban đầu, còn cuốn mà Đức Phật đã chỉ
cho công phu thì mất hết. Sau đấy có nhiều ông được
Đời Đạo Song Tu | 9
tu thông cảm thì tôi lượm được 6 chữ Di Đà nói theo
ý công phu thì cũng không chỉ rõ ràng.
Khi tôi vào học đạo của ông Cao Minh Thiền Sư
có đưa ra cuốn Tánh Mạng Khuất Chỉ và Thanh Tịnh
Kinh của Khổng Tử cũng chỉ về công phu mà không
rành rẽ. Khi tôi được xuất hồn nhờ sự lượm lặt của
tâm tánh sáng suốt của tôi, nhờ Phật Sự ngài bố hóa
làm cho minh mẫn hơn, nhưng tôi cũng không tin
nơi tôi, buộc lòng tôi phải lấy chữ Tàu để hiểu tánh
ý. Trong lúc nhà Phật giao thiệp với Đức Khổng Tử,
nhà Phật hiểu Phật, còn Đức Khổng Tử cũng muốn
hiểu Phật, bày ra một thứ chữ là một thứ dấu để cho
đời sau hiểu lời ăn tiếng nói để thâu chép đời này
qua đời kia cho đại chúng coi lấy để hiểu. Tôi muốn
biết tánh ý của hai ngài, buộc lòng tôi phải chiết tự
để hiểu, nhờ đó tôi hiểu tánh ý của Thánh Phật trong
chữ lời kinh để dạy ta tu hành. Nhờ sự thông cảm ấy
tôi lấy Kinh A Di Đà cũng như 6 chữ Nam Mô A Di
Đà Phật tôi được hiểu rõ hơn, tôi công phu càng ngày
càng sáng suốt hơn. Khi tôi công phu được xuất hồn
tôi làm cuốn Xuất Hồn và Mơ Duyên Quái Mộng để
cho các bạn rõ, các bạn công phu từ đây được dễ hơn
không ngần ngại.
Nhưng tôi cũng không tin tôi, mà nhờ công phu
được sáng suốt các bạn không nên tin các bạn, phải
nghiên cứu hằng ngày để góp lại những ý kiến làm
cho các bạn đi sau cảm mến về sự tu hành thì thấy
sách này được thiết thật để lấy một cái môi giới căn
10 | Đỗ Thuần Hậu
bản. Các bạn sau công phu được điều chi hân hạnh
cũng nghiên cứu rõ ràng, tiếp tục biên thêm theo
cuốn sách này để cho những người sau muốn biết
đạo để hiểu hơn.
Làm tại Đa Kao
Rằm tháng Giêng Tân Sửu (1 9 6 1)
Đời Đạo Song Tu | 11
Thiết Thật Mục Lục
Tôi là Đỗ Thuần Hậu, là một người dắt dẫn
chuyện tu hành, tôi thâu lượm được bao nhiêu xin tỏ
cho các bạn để hiểu. Tôi cũng như các bạn, đều ở
trong trần thế, mang bản thể trần tục này, nhưng tôi
được hiểu trước các bạn về phần theo đạo Phật Thích
Ca. Hôm nay là ngày 15 tháng giêng năm Tân Sửu
(1961), có nhiều bạn hỏi tôi: "Tại sao ở đời là đủ tại
sao còn bày ra đạo để làm chi!".
Thưa các bạn, trong đời là thế gian, có nhiều sự
bất bình, ác cảm mà mỗi người đều có sự ấy, chính
tôi cũng vậy, gọi là cư trần nhiễm trần, lẫn lộn chen
chóc lẫn nhau, bởi thế các hung dữ hằng ngày phát
sanh thì sẽ có tội lỗi trong thế gian rất nhiều, sự tội
lỗi làm cho ta bị tù đày khổ sở. Nhưng chúng ta
không thể tránh được và càng ngày càng bị chất
chứa thêm, chúng ta hết sức suy gẫm để dằn lòng
cho khỏi tội lỗi trong trần, nhưng nó cũng cứ nô đùa
thúc đẩy, mà chúng ta biết phạm luật thế gian thì
cũng có cái nhân vị để cai trị ta đau khổ bản thể. Khi
đã suy nghĩ rồi, ta muốn tránh khỏi tội lỗi đã thâu
nhiễm đường đời như là Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố,
Dục thì có lẽ một ngày kia ta sẽ không bị tội hành
hạ, bởi thế ta chán đời mới tầm qua phương pháp
giải thoát, nhưng cũng đã lâu tầm không được.
12 | Đỗ Thuần Hậu
Lúc ấy tôi được nghe ông Cao Minh Thiền Sư là
một người chỉ đạo Vô Vi 16 điểm trong pháp môn
nhà Phật, tôi được đến cầu ông để chỉ bảo. Tôi cũng
biết làm đủ 16 điểm trong pháp môn, nhưng tôi là
một người ưa nghiên cứu, ông biểu là ông, còn sự
công phu luyện đạo là tôi.
Nhờ nghiên cứu, tôi được cải cách theo đường
đạo thì tôi thấy tôi trở nên một người hiền, tránh
khỏi sự Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Dục và công
phu có điện quang thêm hơn, được xuất hồn đến
Bồng Lai, chỗ Tiên ở. Khi tôi được biết tôi là người
trần mà biết xuất hồn đến Bồng Lai thì tôi biết cho
tôi, còn các bạn nào thấy! Tôi cũng ngạc nhiên và
cũng cho tôi là người nói láo vô bằng chứng. Bởi thế
tôi mới mong các bạn làm theo tôi, nghiên cứu thêm
đường đạo của Đức Phật Thích Ca, trong một năm
thì các bạn có nhiều điều thông hiểu, được hết tật
bịnh nhiễm trần, Hỉ, Nộ, Ái, Ố, Tham, Sân, Si... đỡ
nhiều lắm và có hào quang.
Nhưng tôi cũng khuyên bạn đừng tin tôi, mà các
bạn cũng không nên tin các bạn e có sự tưởng tượng
mà lầm lạc chăng. Bởi thế phải nghiên cứu hằng
ngày về lời ăn tiếng nói sáng suốt hơn, trí ý thông
hiểu và các bạn được một phần hiền từ, không nóng
giận, không tham, còn Mâu Ni Châu phát ra sáng
suốt, cũng gọi là điện quang. Các bạn cứ công phu
cho dày công kỹ lưỡng thì sự thông cảm đem đến cho
các bạn để thấy Bồng Lai tiên cảnh, chư Phật, chư
Đời Đạo Song Tu | 13
Tiên, chư Thần, chư Thánh, nào là tà ma quỷ quái ta
được thấy rõ trong trí ý của chúng ta. Hễ người có
đạo công phu được thấy, còn người không đạo pháp
lý đây thì ít người thấy. Vậy khuyên các bạn nên
công phu dày dặn để hiểu và sáng suốt theo pháp lý
đạo Phật Di Đà và Thích Ca truyền bá.
14 | Đỗ Thuần Hậu
Thiết Thật Về Việc Tu Hành
Thưa các bạn,
Chúng ta sanh ra đời phải có bản thể để làm việc
cho thế gian, trong đấy có ngũ tạng là: Tâm, Can, Tì,
Phế, Thận, cùng đầu mình tay chơn. Đó là một cái
máy để hoạt động nuôi lấy bản thể ta. Trong bản thể
thì nào là Sân, Si, Tham v.v... tranh đấu lặn ngụp
trong bể khổ để giành sống, bởi thế phải nhiễm trần
luôn luôn. Hễ nhiễm trần thì phải chịu cay đắng,
mạnh hiếp yếu, đùa bỡn cho đến đỗi nhiều khi bị
hung hiếp đánh đập tù đày là khác, cho nên những
người trí thức nào mà biết đời rồi thì cũng chán cho
đời mà bước qua tu hành.
Xét về phương diện tu hành, thì có Hồn cùng Vía,
Lục Căn Lục Trần ở vào bản thể. Hồn làm chủ bản
thể gọi là Chủ Nhơn Ông, còn Bóng Vía thì phụ thuộc
coi về bản thể bên ngoài tựa da, nhưng Bóng Vía ấy
nó cũng làm việc cách ngoài mặt da ba tấc để giữ
cho bản thân con người. Trong ấy có Lục Căn coi giữ
bộ tâm, tâm ta ấy có một nguyên tử Hồn không cho
ra khỏi trái tim. Trái tim là một khám tối, trước kia
Hồn chúng ta ở trên trời, có tội bị xung vào, bị giam
hãm. Nhưng giam hãm mà phải làm việc sai khiến
Lục Căn để coi năm cái máy cơ quan là ngũ tạng.
Đời Đạo Song Tu | 15
Ngũ tạng để làm việc nuôi dưỡng bản thân, vận động
nào là lương thực nước lửa. Mỗi vị Lục Căn cũng gọi
là Nguyên Tử Căn. Nguyên Tử Căn có sáu vị, sáu vị
này thay phiên thay đổi coi ngũ tạng, còn một vị phải
giữ trái tim là khám tối của Hồn. Còn Lục Trần thì có
bóng vía làm chủ, để làm việc bên ngoài, về nẻo
chánh, bộ đầu và bản thể tay chân, nhứt nhứt việc
nào phải sốt sắng, lập tức làm việc không được trễ
một tí nào.
Hồn là Chủ Nhơn Ông, là một người chồng của
Vía. Vía là vợ ở nơi một lỗ gọi là Hạ Thiên Môn, cũng
có thể gọi là Hạ Huỳnh Đình, gần nơi Tề Luân Hư
Cảnh theo đường Mạch Đốc. Khi Hồn và Vía được áp
vào bản thể, thì Hồn và Vía là vợ chồng, không được
gần nhau, mỗi mỗi phải lo làm phận sự, không được
giao thiệp. Khi chúng ta công phu luyện đạo thì nhờ
một chất điện quang soi sáng lên tới bộ đầu, dùng
phép Soi Hồn nung nấu thúc đẩy thì điện quang bít
không thể đi ra khỏi da bộ đầu được, phải hồi quang
phản chiếu trở lại để làm một vị cứu tinh cho Vía là
chủ bản thể bên ngoài hiểu biết tin tức của một ông
chồng bị giam hãm nơi khám tối trái tim. Khi ấy Vía
rất mừng biết chỗ giam hãm của Hồn ở vì lâu ngày
cũng muốn gặp nhau để trao đổi ý kiến. Lúc ấy Hồn
và Vía được ra vào thong thả nhưng không thể thoát
ra ngoài. Rồi nhờ 6 chữ Di Đà của phép Phật, Hồn
được ra khỏi khám một chút xíu, còn Vía cũng được
ra khỏi trại giam một tí thôi. Nhưng từ từ Hồn và Vía
16 | Đỗ Thuần Hậu
gặp nhau thì Lục Căn và Lục Trần sợ sệt, vì từ khi
Hồn và Vía bị giam thì Lục Căn Lục Trần mê vui
trần, xúi biểu làm những điều tội lỗi nào là Hỉ, Nộ,
Ái, Ố, Dục. Khi Hồn và Vía nhờ 6 chữ Di Đà mà giác
ngộ lần thứ nhứt thì Lục Căn Lục Trần biết Hồn và
Vía là một vị sao nhân vị, còn Lục Trần là phụ thuộc
để cho Hồn Vía sai khiến, canh gác làm việc và làm
bổn phận, khi có việc chi thì phải báo cáo cho Hồn và
Vía hay. Từ đó đến sau thì Lục Căn Lục Trần ăn năn,
sợ Lục Tự Di Đà phép của Phật, thì mỗi mỗi phải lo
tròn nhiệm vụ, phải tuân theo Hồn và Vía. Khi chúng
ta luyện đạo là Pháp Luân Thường Chuyển để cắt
khiến cho Lục Căn Lục Trần làm việc cho bản thân
theo nhiệm vụ mỗi người, từ đó đến sau Lục Căn Lục
Trần không được giao thiệp, phải căn cứ, mỗi việc
của Lục Căn Lục Trần làm theo đề mục của nó,
không được hợp tác nữa để sanh sứa cùng xúi biểu
những điều mê trần hư xấu ấy. Khi Hồn và Vía rõ
biết phận sự mỗi người phải làm việc để trừ những
tội lỗi trước kia, bị tù đày cho đến khi mãn hạn sẽ trở
về nơi xưa chốn cũ.
Lúc ấy Lục Căn Lục Trần thấy pháp Phật mà Hồn
và Vía hiểu để tu thì Lục Căn Lục Trần kính nể mà
cũng kính pháp Phật chịu quy y Phật, quy y Pháp và
quy y Tăng. Quy y Tăng để thừa hành phận sự do
Hồn và Vía truyền bá chỉ giáo để tu hành hợp nhứt
làm một nước thiêng liêng chờ khi đắc đạo để về
cảnh Trời.
Đời Đạo Song Tu | 17
Còn phép Tịnh cũng khó biết, theo Phật ngài chỉ
giáo hai chữ Tịnh, chữ Tịnh là trong lặng, còn chữ
Tịnh khác là êm ái để cho điện từ từ làm việc theo
Hồn và Vía để làm việc cho sáng suốt bản thể và
cũng phải bảo vệ cho bản thân cho đủ sức khỏe để
nương theo trần thế và đánh đổ vi trùng thương hàn
sốt rét, để hút dưỡng khí nuôi bản thân cho được an
toàn sống lâu. Vậy sự tu mỗi mỗi đều có ích, nào bảo
dưỡng xác thân không lắm bệnh tật...
Còn Hồn và Vía nhờ Lục Tự Di Đà dắt đến ngay
Nê Hườn Minh Triết trên bộ đầu. Trên bộ đầu có
Minh Triết, ngay xoáy là trung tâm vũ trụ ăn với
điện quang của mặt trăng mặt trời, phối hợp với điện
quang bản thể của ta để làm cho nhiều tia sáng
trong bộ đầu phát sanh. Những tia sáng do nguyên
tử của trời trước kia là Hồn Chơn Như sai khiến
xuống vào bản thể gọi là Hồn làm việc tù đày cho
đến mãn hạn, nhưng trong bộ đầu bản thể Minh
Triết là tại bộ óc.
Óc có nhiều cục sáng tạo thành mà mỗi cục sáng
đều có nguyên tử căn cùng nguyên tử lực làm cho ý
trí ta được minh mẫn và sáng láng. Khi người công
phu luyện đạo coi trong bản pháp lý nhà Phật mà tôi
viết đây để hiểu biết bộ óc là một điểm chánh rồi tủa
điện ra tám dây gân gọi là Bát Hướng. Các bạn hiểu
cho, bộ đầu tròn như trái cam chia xẻ phân làm tám
phần, mỗi phần đều phải làm việc phận sự của nó.
Như lỗ tai do nơi bộ óc truyền tin thì lỗ tai là một cái
18 | Đỗ Thuần Hậu
máy thâu thanh chu đáo. Còn bộ mắt là một cái máy
radar để rọi sáng bao la Trời Phật bên trong cùng
bên ngoài, cõi Thiên Đàng cùng thế gian. Bộ mắt này
là một vị cứu tinh, toàn bản thể được thấy xa cũng
phải truyền tin cho Minh Triết là bộ óc, nhờ sự phân
đoán của bộ óc ấy. Còn hai lỗ mũi thuộc về tùy, nó
làm việc các cơ quan ngũ tạng ở trong bản thể, cùng
thay đổi dưỡng khí, giữ gìn cho cơ quan bản thể để
làm việc và phải trông nom nào ăn, ngủ, ỉa để cai
quản một trường sanh của bản thể, cùng phụ thuộc
Minh Triết nữa, phải phụng sự hai chức như là chi và
nha bộ. Đây nói về bộ miệng là một bộ phát thanh do
nơi bộ đầu làm chủ giám đốc, mọi việc phải báo cáo
cho Minh Triết và phải phụng sự giữ hành gọi là ngũ
tạng, do nơi trái tim và thận để chưởng quản cho bộ
miệng phát thanh vận động chất lỏng là nước lửa
điện, phải cắt khiến mỗi chỗ đều trợ cấp nước lửa
toàn thân toàn lực vô trái tim cùng trái thận mỗi việc
không ngừng, nhưng phận sự của phát thanh là nặng
nề nhất, vì trong cõi trần để làm cho người ta hiểu
cùng các thứ chân lông bản thể mỗi mỗi phải vâng
lời chịu lụy nơi bộ phát thanh để đánh đổ vi trùng
thương hàn sốt rét của cõi trần, phải giữ lấy để bảo
tồn bản thể ta, nào huyệt nào nẻo của gân xương thịt
mọi mặt. Đó là tại sao chúng ta làm phương pháp
tịnh tâm làm cho ngừng trễ mỗi công ăn việc làm
của bản thể. Còn bộ mắt phải coi về bên trong bên
ngoài cho sáng chói, còn bộ miệng phải truyền bá
Đời Đạo Song Tu | 19
theo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng. Hồn và Vía
giải thích về sự tu hành cho Lục Căn Lục Trần để tu
theo phép Phật cùng hội các thứ vi trùng nguyên tử.
Loại giác thanh của con vật mà chúng ta đã ăn
xác cùng thâu vía vào Hạ Huỳnh Đình Tứ xa lộ của
ta nào là: loài bò, bay, máy, cựa cùng tôm cá cũng
đều có giác tánh nhưng chúng ta sát hại để nuôi bản
thể thì các vật thù oán chờ ngày báo cáo. Nhưng khi
Hồn và Vía của bản thể được chữ Di Đà của Phật
truyền bá ăn năn tu hành hiểu biết những việc gì tội
lỗi, bởi thế bắt buộc loài bò, bay, máy, cựa tu theo
Hồn và Vía.
Phép Tịnh Tâm này làm cho tia sáng hợp thành
Mâu Ni Châu, đó là một thứ điện quang trong trẻo
sáng suốt bên trong cùng bên ngoài bản thể, cùng
thừa hành trên Minh Triết bộ đầu, hội tất cả các bản
thể cơ cấu góp thành Mâu Ni Châu. Mâu Ni Châu là
điện quang trong đấy có một thứ nguyên tử trước kia
mà Trời đã phó cho bản thể là Linh Hồn hay là Thần
Hồn, cũng gọi là Chủ Nhơn Ông thuộc khí dương là
lửa của tiên thiên. Còn Bóng Vía là do nơi một thứ
lửa của trái đất hóa sanh, điện này hợp với một thứ
điện dương của bản thể người đàn ông cùng điện âm
của người đàn bà. Đôi vợ chồng cấu tạo sanh thai
cũng có trí thấy, góp lực lượng căn quả của đôi vợ
chồng ấy hợp thành cái thai. Trong thai ấy phải tùy
nơi bộ Hồn và bộ Vía của trời đất và ngũ hành để bảo
vệ xác thịt. Xác thịt là một thứ đất mà nguyên tử của
20 | Đỗ Thuần Hậu
trần thế sanh sanh hóa hóa do nơi đàn ông cùng đàn
bà vợ chồng cấu tạo, nào sự phước đức hay là tội lỗi
của đôi vợ chồng ấy cho vào cái thai. Bởi thế Hồn và
Vía về bề ngoài dính líu nhiều tội lỗi không kể cho
xiết, trong đời con người phải chịu khắt khe tội lỗi
mọi mặt. Khi chúng ta tu luyện đạo minh mẫn rồi,
biết rõ những sự huyền diệu trong cơ thể mà trời đất
cùng người hóa hóa sanh sanh, bản thể ta kết buộc
nhiều tội lỗi không thể giải thoát.
Khi ta Tịnh thì ta có quyền để cho đôi vợ chồng là
Hồn Vía tu và bắt buộc Lục Căn Lục Trần phải tu
theo. Hồn và Vía làm chủ, còn Lục Căn Lục Trần phải
tuân theo mạng lệnh của Hồn và Vía, truyền bá dưới
tứ xa lộ là Hạ Huỳnh Đình. Nào những giác tánh bò,
bay, máy, cựa phải tu do nơi Lục Căn Lục Trần chỉ
giáo, tất cả phải thừa hành mạng lệnh tu hành, do
nơi Hồn và Vía làm chủ độc quyền. Trong kinh có
câu: "Thiên thượng địa hạ vi ngã độc tôn", nhưng
trên Trời thì có Phật làm chủ, còn bản thể ta là Tiểu
Thiên Địa thì Hồn và Vía làm chủ. Tóm tắt tất cả,
Hồn được độc quyền gọi là chủ nhơn ông, còn Vía là
phụ thuộc, làm bà chủ trong các điện bản thể của ta.
Thưa các bạn, tôi xin giải thích thêm đây để các
bạn được hiểu rõ, mỗi mỗi bản thể ta đều có phận sự
do điện làm chủ trương, trước kia nhà Phật cũng như
ta nhưng nhờ Lục Tự Di Đà của Đức Thích Ca lượm
được truyền bá. Nghề nghiệp này do Đức Di Đà
truyền lại lưu hành cho chúng ta ở dưới thế gian này
Đời Đạo Song Tu | 21
được công phu luyện đạo. Nếu chúng ta cố gắng thì
linh hồn sáng suốt sẽ về cõi Phật và cũng được sức
khỏe cùng chống chỏi vi trùng của trần gian, không
bịnh hoạn. Sự sống lâu nơi trần thế cũng nhờ phép
tu luyện này mà giải các chứng bịnh trần là nhờ Soi
Hồn, mỗi nơi các nẻo các huyệt của dây gân và các lỗ
tai, lỗ mũi... Không bịt thì điện quang đủ sức mạnh
tung ra, thông cảm thì sự Sân Si càng ngày càng
giảm. Bịnh này trong thế gian khó trị, bởi thế chốn
ngục tù rất đông vì bịnh ấy, phạm luật của nước đưa
ra trừng trị, nhưng mà tánh ý ta bị nô đùa nơi Lục
Căn Lục Trần xúi biểu rồi bị cái cặn nguyên tử của
lửa điện nóng quá thúc đẩy.
Thưa các bạn, khi tôi biết đạo nhờ ông Cao Minh
Thiền Sư truyền bá pháp môn thì các chứng bịnh
đều tiêu diệt và trở nên một người sáng suốt và được
hiền từ không giận nóng. Hôm nay, tôi nghiên cứu
về phép tu hành luyện đạo làm ra pháp lý đây, vắn
tắt ít điểm hơn và mau có hiệu quả, những bạn nào
muốn biết thì xin công phu luyện đạo. Nhưng tôi
cũng xin lưu ý là các bạn cũng không nên tin nơi tôi,
và các bạn có làm ra điều gì cũng không nên tin các
bạn để các bạn nghiên cứu rành rẽ rõ ràng, tốt hơn
để cho những người tu sau được vẻ vang hơn. Tới
đây là hết. Còn phép công phu luyện đạo sẽ chỉ sau.
Hơn nữa, khi chúng ta công phu được Mâu Ni
Châu rồi có sáng suốt, trí thức ta được thấy xa hiểu
rộng, nói về phần học các thứ, nào là nghề văn cùng
22 | Đỗ Thuần Hậu
điện của trần thế bày ra. Điện này có vật chất nhưng
nhờ người có học cao được hiểu, nhưng người nào
muốn mọi mặt thiên về bên nào thì sự học ấy được
hiểu mau hơn nhờ thiêng liêng của nó, rồi sáng suốt
chế tạo nhiều máy móc tinh xảo ngày hôm nay mà
trước kia chưa có, do nơi bộ đầu suy nghĩ, cho nên
bộ đầu có nhiều nguyên tử gom vào óc. Nhưng óc
không có gắn liền vào nhau như da thịt, mà cũng
như một cục bột rời rã từ khóm mà ta gom nắn lại
thành khối. Hễ các bạn thiên về nghề nào nhờ bộ óc
nguyên tử phát sanh. Nhưng nếu có nhiều người
sáng suốt thì không nói, còn nhiều người đang học
mà ít sáng suốt thì các bạn nên nghiên cứu thử để
biết, nếu người ấy công phu luyện đạo như chúng ta
thì sẽ sáng suốt tinh xảo hơn. Lúc công phu tu luyện,
sự sáng chói là lửa điện, còn sự tối tăm chậm hiểu là
lửa điện không thông, bị lấp tắt, ngăn cản sự sáng
làm cho tối hay là mờ ám.
Đời Đạo Song Tu | 23
Cách Công Phu Luyện Đạo
Đây nói về cách công phu luyện đạo:
Chữ CÔNG PHU :
Công là phá ra, đánh đổ ra, nào là ngũ tạng, trái
tim cho riêng biệt, mỗi bộ phải làm tròn nhiệm vụ
công việc của nó, mỗi mỗi đều có chất lửa nguyên tử
và chất lửa phụ thuộc.
Chữ Phu là đứa hay là người đều có bộ phận ngũ
tạng. Trong ngũ tạng có nguyên tử để làm chủ sai
khiến và liên can cùng các ngũ tạng. Trước kia ta
chưa công phu thì ngũ tạng chung nhau để làm việc
đốc xúi nô đùa nuôi dưỡng những tật xấu Tham,
Sân, Si thì càng ngày Tham, Sân, Si càng nhiều. Nay
ta biết tật xấu ấy không thể tránh được do ngũ tạng
làm ra gọi là bịnh Sân Si, cũng tại mê trần. Tỉnh trí
lại ta biết Đạo là một sự hiền lành, sáng suốt thông
minh hơn mới có hiền lành.
Còn chữ Luyện là rèn luyện phân tách, mỗi bộ
phải làm việc, bộ phận của nó phải giữ gìn, không
làm việc lộn xộn nữa mà bị bịnh Tham, Sân, Si.
Còn chữ Đạo, trong ngũ tạng bản thể con người
thì có trái tim làm chủ toàn phần ngũ tạng, trong trái
tim có đựng một chất huyết tốt để làm việc tiếp xúc
24 | Đỗ Thuần Hậu
các guồng máy cho ngũ tạng và bản thể bên trong,
rồi phối hợp bên ngoài làm cho các thứ huyết lưu
thông từ trong phối hợp ra ngoài. Trong trái tim có
một vi trùng nguyên tử gọi là thứ nguyên tử huyết
tinh của điện lửa, trước kia ở trên trời, cùng dưỡng
khí đưa xuống để vào trái tim làm chủ coi ngũ tạng,
bộ phận bản thể con người. Trái tim của ngũ tạng
nhờ vật chất thịt máu trần làm chủ trương, bổ túc
cho ngũ tạng nuôi dưỡng bản thể con người. Còn vi
trùng tinh huyết nguyên tử gọi là Hồn, ở trong trái
tim, bị tội lỗi mê muội cõi trần nên không biết chi
hết. Bởi thế, xác thịt trái tim của ngũ tạng là để làm
việc nuôi bản thể, sức khỏe cho người, có thể gọi là
một cái khám tối. Khi ta biết luyện đạo, thì điện trên
bộ đầu chói rọi động đến trái tim của ngũ tạng.
Trong trái tim có huyết nguyên tử gọi là Thần Hồn
được biết, còn một phần huyết nguyên tử cặn bã còn
lại phụ thuộc đây sẽ tiếp xúc theo luồng điện trên bộ
đầu con người, đó là chỗ ngôi vị chính Thần hồn vi
chánh còn phụ thuộc ấy vi phó Thần Hồn mà thôi.
Phó Thần Hồn cũng gọi là cặn bã của nguyên tử.
Xin các bạn biết cho tại sao Cửu Khiếu ta gọi là
trái tim. Đối với các bạn đã hiểu rõ cách công phu
luyện đạo thì đúng nơi chỗ này Cửu Khiếu là trái tim
của thiên tạo, nhưng chỗ ấy cũng là vật chất để cho
chính hồn ở làm việc, đó là một ngôi vị đã sẵn bày,
mà Hồn không được làm việc tại đó là do nơi Hồn
còn mê trần không ra khỏi khám tối là trái tim phụ
Đời Đạo Song Tu | 25
thuộc. Trái tim thiên tạo là trước kia do nơi cục máu
bào thai có một chấm đỏ nhỏ gọi là có trống. Cục
trống ấy gọi là cục nguyên tử của Thần Hồn, trong
cục trống ấy có chất nguyên tử thanh khiết. Còn trái
tim phụ thuộc do nơi nguyên khí cha mẹ cấu tạo, xác
ấy đẻ ra làm việc cho cơ quan vật chất do huyết cặn
bã mà thôi. Khi ta công phu luyện đạo do nơi trí ý
chớ không phải lấy tiếng nói làm động nơi trái tim
phụ thuộc mới là phải đâu. Chúng ta công phu luyện
đạo là Chưởng Linh Hồn cho sáng láng minh mẫn.
Muốn cho sáng láng minh mẫn thì trí ý ta phải gom
điện bản thể tất cả đem vào bộ đầu nơi Cửu Khiếu.
Sự công phu do nơi trí ý mà ra, không do nơi bộ máy
hay là động chạm mà được.
Đây nói về công phu 11 giờ và 12 giờ đêm. Khi ta
muốn học công phu, phải cố gắng cho đúng giờ. Khi
ta ngồi trong chỗ thật tối làm phép Soi Hồn và Pháp
Luân Thường Chuyển cùng Tịnh thì mọi việc ta nên
chú ý về trí ý bằng tịnh, không xôn xao để cho luồng
điện từ từ cảm thông các nẻo bản thể cùng bộ phận
thì linh hồn mới yên tịnh làm việc. Trước hết là pháp
Soi Hồn chỉ nghĩa làm cho thông. Điện quang được
truyền các huyệt và giao thiệp phối hợp, lúc ấy phải
động chạm nơi các lỗ huyệt. Còn Pháp Luân Thường
Chuyển thì phân tách ngũ tạng. Làm như vậy xong
rồi thì ta ngồi Tịnh. Tịnh là bằng tịnh một linh hồn
nguyên tử là điện gom phụ, rồi cũng chữ Tịnh làm
cho điện quang từ từ lên tới bộ đầu Cửu Khiếu. Bộ
26 | Đỗ Thuần Hậu
đầu Cửu Khiếu sẽ dắt dẫn tới trung gian là chỗ ở
giữa hai chơn mày. Điện ấy các bạn cần công phu ít
nữa một tháng tới sáu tháng điện mới tung ra ngoài
hợp với điện của Trời Phật soi sáng tỏ rõ rồi mới từ
từ bay lên, tùy khả năng của các bạn công phu.
Chữ công phu chỉ rõ là sửa máy cơ quan ngũ tạng
mà thôi, bởi thế phải động chạm. Khi ta Tịnh phải
yên tịnh, các bạn nên nhớ dỗ ngủ, làm cho mê,
nhưng trong ý trí ta mê mà còn thức, được hiểu gọi
là êm lặng, rồi bạn lấy ý trí để dòm ngay trung gian,
rồi trong ý trí ta tự thấy luồng điện lửa phóng ra
trước mắt của ta. Tại sao tôi nói khoảng công phu
này hơi rắc rối là vì tôi biết các bạn hiểu trái tim là
nhân tạo của ngũ tạng, rồi các bạn tưởng trái tim ấy
là thật sự, không ngờ là phụ thuộc. Theo phép Đạo,
cái trái tim gọi là trung tâm Cửu Khiếu đó là tâm
đạo, do nơi thiên tạo sắp sẵn, bởi thế phải dùng trí ý
mà phối hợp với điện ngũ quan để làm việc, chỉ rõ
trái tim thiên tạo do nơi đường mạch đốc trong nơi
xương sống, ăn tuốt tới Cửu Khiếu, rồi cũng nương
theo nơi xương sống là vũ trụ bản thể của con người.
Ví dụ về trái tim nhân tạo, bạn được biết như một cái
cây trời sanh ra mọc từ dưới đất lên trên thì trong
ruột của cái cây đi ngay vào ngọn của nó để hưởng
dưỡng khí cho sống. Cây cùng con thú cũng biết sự
sống chết do nơi trái tim thiên tạo, trái tim này của
cây cùng thú như nhau. Con người cũng vậy nhưng
Đời Đạo Song Tu | 27
người có nhiều sự rắc rối hơn bởi tại mê trần, phiền
não còn cây và vật thì chỉ biết sự sống chết mà thôi.
Đây tôi xin nhắc lại sự công phu đúng 11 - 12 giờ
đêm, thứ nhất là Soi Hồn, bạn phải ngồi xếp bằng,
bình tĩnh cho phẳng lặng ý trí. Lấy hai ngón tay cái
nhét vào bộ máy thu thanh là lỗ tai cho kín để các
điện quang của bản thể chạy xung lên Cửu Khiếu.
Còn ngón tay giữa, ta chận nơi vành xương của con
mắt, kéo chằn ra để cho nguyên tử điện soi sáng
hằng ngày của con mắt nhóm lên Cửu Khiếu. Còn
ngón tay trỏ lại chận nơi màng tang chỗ dây gân
nhức đầu thường nhảy ấy, khi điện quang ở dưới bản
thể xung lên nơi đó phải chạy tuốt qua Cửu Khiếu.
Làm như vậy gọi là điện quang hợp chung lại với
Cửu Khiếu, rồi điện quang Cửu Khiếu ấy chạy trước
trán ta cho tới ngay trung gian chơn mày. Khi điện
gom đủ lực lượng tại chỗ rân nhộn gọi là Mách Điện,
rồi tung sáng ra trước mắt ta, bay vẩn vơ trước mắt.
Làm như vậy cho linh hồn là chủ nhân ông được ra
khỏi trái tim phụ thuộc của ngũ tạng. Chừng ấy chủ
nhân ông là Hồn mới biết tội lỗi tù đày ở khám tối là
lúc Hồn còn ở trái tim phụ thuộc. Nay được ra ngoài
nhờ dưỡng khí sáng suốt, Hồn vui vẻ, chừng ấy Hồn
đủ tâm trí gọi là Định Thần. Định Thần là Thần Hồn
sáng suốt, và sự sáng suốt bộ đầu phát ra Phật gọi là
Hào Quang. Các bạn nên nhớ Soi Hồn ít nhất là 10
phút, nhiều là 15 phút mà thôi.
28 | Đỗ Thuần Hậu
Đây nói qua về Pháp Luân Thường Chuyển. Các
bạn xếp bằng làm cho điện quang không chạy xuống
đất là bộ chân, để cho điện quang sẽ chạy lên bộ
đầu. Còn hai cánh tay xếp lại cho khít vào xương
sườn bản thể để kềm cho vũ trụ là xương sống không
lúc lắc, đầu ta không lung lay, lấy sự ngay thẳng của
vũ trụ. Bắt ấn Tam Muội để cho phía tả và phía hữu
cánh tay hợp nhứt để cho điện quang chạy tung lên
chỗ xương gu cổ để tiếp xúc với vũ trụ, chạy lên Cửu
Khiếu. Lưỡi ta co lên chơn răng để lọc nước cam lồ ở
thận thủy xung lên làm cho nước miếng trở nên
ngọt, trong sạch Phật gọi là Ba La Mật.
Răng ta cắn lại nhẹ nhẹ làm cho các thứ điện
trong bản thể có sức khai Thiên Môn. Khai Thiên
Môn là bộ đầu ngay giữa tự công phu mà nứt ra, bởi
thế sách nhà Phật cũng gọi bản thể ta là Tiểu Thiên
Địa, cũng như trên trời có sông Ngân Hà chia đôi để
cho điện hồn làm việc. Nay ta nhờ Lục Tự Di Đà chỉ
bảo và cách Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển dạy
sửa chữa cho điện quang cảm thông và trong trí ý
của điện quang được biết quá khứ vị lai. Còn ta có
khai thiên môn đó là sông giang hà mới gọi là Tiểu
Thiên Địa. Bởi thế mới gọi tu là trau dồi sửa đổi, là
sửa bộ máy ngũ tạng bản thể cùng là ngũ quan bộ
đầu thì hồn mới sáng suốt. Nhờ sự luyện là luyện đạo
cho dày thì quả mới cao. Công cho dày thì bền công,
còn quả là điện quang nguyên tử mà sách nhà Phật
gọi là Mâu Ni Châu sẽ phát trước mặt để thông cảm
Đời Đạo Song Tu | 29
trời đất, cũng nhờ ý trí của ta rèn luyện. Hồn là trí ý,
bởi thế các bạn công phu nên lấy trí ý. Trí ý là nhớ
tưởng sưu tầm để hiểu biết. Ví dụ như các thanh
niên cùng thanh nữ hay là người học muốn cho hiểu,
thuộc thì lấy trí ý, còn công phu luyện đạo cũng thế
mà thôi.
Đây nói về Tịnh. Chữ Tịnh là yên lặng, phẳng
lặng từ từ cho điện xung lên để cho linh hồn được
sáng suốt, sách nhà Phật gọi "Biển cho lặng minh
châu mới phát, lòng cho yên mới gọi là Thần". Biển
lặng là từ ngũ tạng, trong ấy có bộ phổi là nước cũng
gọi là Biển đựng nước, còn trung huỳnh đình thì có
bong bóng để đựng nước gọi là Biển, còn hạ huỳnh
đình có hai trái thận thuộc về nguyên tử của nước
cũng gọi là Biển. Ba biển này hợp lại yên tịnh, không
xao xuyến. Biển thì có nước lớn nước ròng. Còn ba
bộ tạng ta có điển cũng động hoài do nơi hơi thở của
bản thể, hễ mạnh thì xao xuyến, còn từ từ thở thì
yên tịnh không xao xuyến. Ngoài ra có bọng đái
thuộc về biển nhưng nước đục, và nó phải làm việc
có giờ phút do nơi ba biển trên điều chỉnh. Khi các
bạn được yên tịnh gọi là ngồi Tịnh, làm cho phẳng
lặng êm ái, rồi trí ý ta dỗ ngủ, làm cho linh hồn phát
mê. Nhưng không phải là ngủ khởi hành từ bộ máy
ngủ từ con mắt đem ra, nhưng tâm ý ta phải thức để
tìm kiếm minh châu phát hiện trước mắt ta. Trong
lúc các bạn mê thì trong trí ý tỉnh gọi là trong cái mê
có cái tỉnh mới biết được công phu ta thấy những gì.
30 | Đỗ Thuần Hậu
Khi ta thấy, trí ý ta nên trông nom những sự thấy nó
biến cảnh thế nào. Chỗ này là chỗ khó nhứt của công
phu luyện đạo, cho dày công, thì hột Mâu Ni Châu
điện lửa thành tựu một bóng tròn có lửa điện chói
sáng gọi là ánh sáng, rồi nó đi từ đâu đến đâu mà
tiêu mất, rồi biến hóa trở lại như thế nào, gọi là đổi
cảnh.
Tại sao mỗi con người có bản thể giống nhau, kẻ
làm sao mau thấy Mâu Ni Châu, còn người công phu
sao chậm thấy, đó cũng do nơi tiền căn hậu quả khi
xuống trần rồi mê trần thái quá, hung dữ, độc ác quá
đỗi làm cho trí ý tối thêm, lố bịch, sanh Tham, Sân,
Si rất nhiều. Bởi thế ai tu cũng được, tùy theo khả
năng và nhân quả người, không thể biết được.
Đời Đạo Song Tu | 31
Cách Làm Như Thế Nào ?
— Như Thế Này !
Lấy gần chỗ khuất lấp mà hiểu được. Ví dụ như
một vật chi của ai không biết đang để trong một cái
hộp kín mà vật ấy có tì vết gì ra sao ta được thấy rõ
một phần nào, khi dở hộp ra ta xem xét kỹ thấy y
như vậy, thì việc gần ta thấy được, việc xa kia là
khuất lấp ta cũng thấy. Đó là sự nghiên cứu. Còn về
Đạo theo ý của bạn được hiểu biết sáng suốt như thế
nào, bạn cũng không nên bỏ sự nghiên cứu, và cũng
không nên tin nơi ai, đến đỗi bạn cũng không tin nơi
bạn, mà phải kỳ quyết nghiên cứu để tầm việc tu
hành cho rõ ràng hơn, mỗi năm nó thêm lên thế nào.
Các bạn đã hiểu sự công phu này cũng như thể thao,
làm cho có sức mạnh, siêng năng, ăn uống có chừng,
ít sanh bệnh như là cảm gió, sốt rét, nhức mỏi, bồi
bổ sức khỏe để làm việc cho đời. Đường đời bạn cũng
được sáng suốt và làm ăn thường lệ, không bị
thương hàn sốt rét, đảm bảo gia đình chúng ta, và
chỉ tốn một hai tiếng đồng hồ trong lúc khuya để
công phu mà thôi.
Ngày hôm nay các bạn hỏi tôi về đường đạo thì
tôi ngạc nhiên vì tôi cũng không biết đạo là gì, tôi
chỉ biết làm 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật để trị bịnh
trần cùng bịnh thương hàn trên đây, gọi là công phu
32 | Đỗ Thuần Hậu
lúc 12 giờ khuya. Khi các bạn công phu được nhiều
thì các bạn trừ được bịnh Tham, Sân, Si, Hỉ, Nộ, Ái,
Ố, Dục. Bịnh ấy nó thúc đẩy không ai can gián được,
chỉ có công phu mới làm cho nó thuyên giảm. Bịnh
ấy cũng không lấy cái thuốc nào dùng pháp lực đưa
ra mà trị được hết, bạn chỉ công phu luyện đạo thì
thấy đỡ rất nhiều. Đó là một sự có ích trong đời,
mình được thương mình cùng thương người. Còn
đường đạo thì vô cực vô biên, cao xa mầu nhiệm,
chúng ta không thể biết đạo là gì! Cho nên, tôi lấy
theo chữ Hán vì cốt giác của Đức Khổng Tử cùng
Đức Thích Ca sinh ra trong đời của ông. Một đàng
thì hiểu Đạo và Chơn Lý, một đàng thì hiểu Đời, làm
ra chữ nghĩa. Lúc ấy hai ông được trao đổi ý kiến mới
có minh dịch ra bằng chữ Hán hôm nay. Bởi thế ta
phải lấy chữ Hán nghiên cứu ra để hiểu cái ý hai ông
tiền giảng đặng nương theo đấy làm Đạo.
Đời Đạo Song Tu | 33
Như Thế Nào Là Chữ ĐẠO ?
Chữ Đạo
Về phần nghiên cứu chữ Đạo.
hai mươi đầu trên là 10 lành 10 dữ hợp lại thành
Hòa Nhã. Chữ Hán kêu "Thập ác dĩ hòa bình thập
thiện".
là chữ Tự, phải suy nghĩ về trí ý thì trong trí ý
nó sẽ có sáng suốt gọi là Đạo.
chữ Chi là chung mối giềng Đạo làm ra gọi là
chữ Đạo.
Cho nên chữ Đạo nó bí ẩn trong bản thể về trí ý.
Trong trí ý nó có điện mới sáng chói, thấy được như
là thấy đây hiểu kia, công phu đây biết đó. Còn về
phần Đạo Khổng Tử thì coi sách để hiểu rõ được
công ăn chuyện làm của đời khỏi lo chi nhọc.
Tóm Tắt: Trong bộ óc gọi là Hà Đào Thành, trên
bộ đầu ngay xoáy óc. Các việc do trí ý mà ra, sự học
hỏi rất ít mà hiểu nhiều, khỏi cần lao nhọc.
34 | Đỗ Thuần Hậu
Như thế nào là chữ TU ?
Chữ Tu
nhơn đứng bằng gọi là Âm Dương hợp nhứt, là
điện âm trong bản thể, và điện dương là lửa nóng
chạy các nẻo gân, hợp với xương sống làm một cái
vũ trụ. Điện ấy phát tung lên trời một đường ngay,
bởi thế mới gọi là vũ trụ. Điện âm và điện dương
phối hợp, ví dụ sợi dây gân là sợi dây điện trong bản
thể, phần bên trái gọi là lửa nguyên chất, còn bên
mặt là lửa ngọn, bởi thế cũng đồng lửa mà có lửa
nóng lửa lạnh.
là chữ Cửu nghĩa là lâu, bền bỉ. Bạn công phu
lâu chừng nào thì điện được phát triển sáng suốt
thêm.
là chữ Phân. Sự làm việc trong bản thể hằng
ngày để chuyển động cơ quan cho tiêu hóa vật thực.
Những điện ấy, người làm Đạo được nương theo sợi
dây gân dẫn điện để đến chỗ huyệt tu, và cũng nhờ
điện quang ấy để sửa cơ quan trong mình theo 6 chữ
Di Đà có cắt nghĩa sẵn để hiểu biết mới công phu
được.
Đời Đạo Song Tu | 35
Khi bạn công phu rồi thì các bạn ngó thấy điện.
Tại sao ta thấy điện phát ra ngoài thì ta mới biết
Đạo? Chữ Đạo là ta dắt gân chạy theo nhiều đường
mà ta muốn đến những chỗ gọi là huyệt. Sự dắt dẫn
ấy trong trí thức ta mới gọi là đạo, là đường, là một
thứ điện lửa đi theo đường gân trong bản thể, tới chỗ
huyệt thì ngưng tại đây rồi phối hợp các điện lại. Đó
là Đạo. Còn Tu hành thì chữ Tu có nghĩa là trau dồi
sửa chữa. Trau dồi là làm cho khí điện lửa nháng ra
trước trán ta. Ban đầu mù mờ một tí lửa nhỏ mà
không trong, rồi công phu nhiều ngày lại thấy đóm
lửa ấy lớn hơn và sáng suốt gọi là trau dồi. Trau dồi
cũng có nghĩa là chùi rửa sạch bụi và dắt dẫn từ
đường gân này sang đường gân kia, nó sẽ đi theo ý
muốn của chúng ta đến các huyệt chúng ta định, gọi
là sửa đổi.
Tóm Tắt: Theo về công phu luyện đạo, gọi là Soi
Hồn.
36 | Đỗ Thuần Hậu
Như Thế Nào Là
Pháp Luân Thường Chuyển ?
Thưa các bạn, muốn hiểu Pháp Luân Thường
Chuyển thì thật là rắc rối, cho nên ta phải lấy từ chữ
Hán cắt nghĩa ra mới được.
Chữ Pháp
chấm bang chỗ ba điểm là phép ta dắt dẫn lọc
lựa lắng trong huyết máu bản thể cho nó đi riêng ra
gọi là phân tách mỗi chỗ làm việc theo bổn phận của
nó.
là chữ Khứ. Khứ là đi, là tự ta công phu dắt dẫn
nó đi theo ý muốn của ta.
Chữ Luân
chữ Xa một bên là cái bánh xe xoay tròn phân
tích cho cơ quan. Cơ quan của bản thân là trái tim, lá
gan, bao tử, phổi, trái thận cùng các phần khác... đều
phân tích hết.
Đời Đạo Song Tu | 37
là chữ Luân. Luân nghĩa là phải công phu làm
cách nào cho quay chuyển, cho phân tách cơ quan.
Mỗi khóm phải làm bổn phận về lửa điện chớ không
được chung nhau làm việc như trước.
Phân tách nghĩa là chia ra, lửa ấy chia từ mỗi
khóm thì bịnh hung hăng nóng giận trong thế gian
đã từ từ bớt. Ví dụ như một chòm lửa mà chia ra cho
năm khóm gọi là ngũ tạng mỗi phần thì lửa ấy cũng
đủ lực lượng nhưng đã xa nhau không hợp lại thì sự
nung nấu sức nóng từ từ bớt, chẳng khác nào một lò
nướng bánh, nếu chất một đống than tại giữa thì hơi
nóng nhiều quá, bánh ấy phải đến khét. Muốn cho
bánh đừng khét, thì chúng ta phải chia lò lửa làm
năm khóm nhỏ, sức nóng của lửa điện đã chia sớt thì
bánh không khét. Tương tự, khi cơ quan ngũ tạng
nóng quá thì giận dữ thêm lên, còn chia sớt ra thì
sức nóng vẫn đủ lực lượng để làm việc mỗi phần
nhưng sự nóng bớt từ từ mà thôi. Bánh không khét,
sự hung dữ trở nên hiền nên gọi là chữ Luân. Một thí
dụ khác về năm khóm lửa là năm viên đạn cột chung
lại thành một chùm tượng trưng sự nóng nhiều hơn,
còn nếu ta nắm chùm lửa năm viên đạn ấy quay
vòng tròn phân tách ra thì mỗi mỗi đều dang ra, gọi
là chuyển.
Chữ Thường
38 | Đỗ Thuần Hậu
Có nghĩa là làm hoài hoài, mãi mãi, không
ngưng.
chữ Tiểu ở trên là từ từ rồi trở nên mạnh.
dẫn đầu ngang qua gọi là lấy hai phần bản thể
(hai bên mặt và trái) hợp lại tất cả trong cơ quan bản
thể gọi là chùm viên đạn lửa, phân tách ra mỗi khóm
như trên.
chữ Khẩu là mỗi mỗi.
chữ Bố là một sợi dây để cột chùm, trong đấy
điện quang làm việc không ngớt, thường ưa chung
nhau. Nay là phép của Phật thì nó cũng làm việc
trong cơ quan, cũng đủ lực lượng cho mỗi cơ quan
làm bổn phận dù không được chung hợp sức nhau,
cũng thường xoay chuyển cơ quan bản thể. Phân
tách hoài thì bịnh nóng giận của ta càng ngày càng
bớt, hết.
Chữ Chuyển
Có nghĩa là chia ra, san sớt, động đậy, xoay
chuyển.
là chữ Xa chỉ nghĩa bánh xe vòng tròn.
Đời Đạo Song Tu | 39
Chữ Xa thiếu lực lượng nên không giống
chữ xa kia. Khi chúng ta quay vòng, vừa đúng một
vòng tròn thì hơi ngưng chút xíu, cũng như lái xe tới
khúc quẹo phải chậm hơn trước, bớt lực lượng.
chữ Thốn là phân tách xoay chuyển theo pháp
Đạo cho lực lượng phân tách của nó. Đó là những
người công phu phải hiểu, nhờ có người chỉ dẫn mới
được rõ.
Chữ Tịnh
Hai tháo đầu nghĩa là lấy khí điện bên tả và bên
hữu chung lại hợp thành, rồi lấy vũ trụ âm dương
bên hữu bên tả thì có thứ điện trong nguyên tử của
nó ngang bít ra một đường chữ nhứt ở dưới, hợp lại
thành ra chữ Tịnh.
Tịnh là lóng cho trong khiết, không động đặng
bản thể, tánh tình yên lành, ý chí không xao động. Vì
bản thân ta ưa chạm mà nay ta ngồi tịnh, ta không
làm cho bản thể và ý chí động chạm để cho các thứ
điện yên lặng, rồi điện lửa yên tịnh trong trẻo. Trong
cái trong trẻo ấy có một thứ Tinh Khiết thành ra một
thứ Mâu Ni Châu là khóm lửa điện hợp nhứt, đem về
tại chỗ hợp tích của người làm Đạo mới biết trong ấy
đủ bao la trời đất cùng bản thể. Gom ngươn khí bao
40 | Đỗ Thuần Hậu
la bản thể rồi điện ấy phát hóa sanh một thứ lửa
nguyên tử chạy đến lư hương nằm bên ngọ của
người hành đạo gọi là lò lửa thì lửa trong lò sẽ phát
sanh nguyên tử điện lửa hoàn nguyên hợp nhất. Rồi
từ đó nó phát mê muội thức ngủ, nhưng ý ta mê mà
không đáng mê, muội không đáng muội, thức không
đáng thức, ngủ cũng không đáng ngủ, nhưng chúng
ta đều biết rõ bản thể ta có những gì đụng chạm,
mới gọi là Tịnh. Tịnh phải lắng nghe nơi chỗ xuất
hồn để cho điện của Trời phối hợp thì dắt dẫn giúp
điện ta đi lên. Cục điện gọi là Hồn. Điện Trời cùng
điện ta bay lên gọi là Xuất hồn. Nhưng cục lửa hồn
này được thấy cảnh thế gian và thiên đàng cũng
không khác nào một tấm gương rồi từ đây thấy kia,
từ trần gian thấy thiên đàng bồng lai cùng hiểu quá
khứ vị lai. Và cục lửa ấy nhờ thâu thập lại, khi trong
mê có cái tỉnh sẽ thâu hút vào bản thân thì trí ý lại
nhớ thêm lên.
Đời Đạo Song Tu | 41
Nói Về Bộ Kinh LỤC TỰ DI ĐÀ
Bộ kinh này được xen vô đây là để cắt nghĩa sáu
chữ Nam Mô A Di Đà Phật mà thôi.
Thưa các bạn, chúng ta làm phép Soi Hồn thì
trong pháp lý chỉ có hai chữ là Nam Mô là sơ thừa
mà thôi. Tại sao là một cách bề ngoài, bịt lỗ tai...
Khi làm như vậy, trong trí ý chúng ta nhớ đến
chữ Nam Mô A Di Đà Phật, thì cách bịt lỗ tai... cho
phép phần Nam Mô ở trên minh triết đưa xuống tới
Sơ Huỳnh Đình, Trung Huỳnh Đình, Thượng Huỳnh
Đình. Nhưng Sơ Huỳnh Đình là Tâm, Can, Tì, Phế,
Thận, điện nơi ấy gặp chữ Nam Mô theo phép Phật
thì sẽ phải làm việc theo cách chúng ta công phu
luyện đạo.
Thưa các bạn, từ trên Trời Phật cùng thế gian
mỗi phần có ngũ hành là năm thứ lửa theo ngũ tạng
để làm việc. Khi chúng ta làm như thế, công phu bịt
lỗ tai làm cho động sợi gân cho điện chạy, rồi cách
bịt con mắt chận sợi dây gân tả hữu cho điện âm
dương nguội nóng nó dắt xuống đến ngũ tạng phân
ngồi làm việc theo ý của Đức Phật sẽ dạy bạn công
phu. Điện ngũ tạng thừa hành nhiệm vụ, nguyên tắc
điện phải chạy lên trên bộ đầu minh triết không khác
nào một nhà dây thép để chận trạm ngựa rồi mở
đường khác chạy cho đúng theo phép làm thì lúc ấy
42 | Đỗ Thuần Hậu
điện ngũ tạng được đánh đổ, phân tách, sửa chữa
Tham, Sân, Si, còn một phần nữa thì điện chạy theo
gân lên bộ đầu. Khi bạn chận sợi dây gân là cách
thay đổi trạm ngựa của nhà dây thép. Còn sợi dây
gân chưa chạy thì ta bắt buộc chỉ cho điện chạy đúng
cách làm việc, bởi thế tôi phải cắt nghĩa chữ Nam
Mô.
Có bài kệ về chữ Nam như sau:
NAM
NAM thật phương Nam lửa Bính Đinh
Cung Ly thuộc Ngọ ở nơi mình
Phát ra hừng cháy cùng trời đất
Lặn lại êm ru cả tánh tình
Hiệp một chỗ dường thu nguyệt rạng
Tản đòi nơi tợ tuyết trong xanh
Khảm Ly Diên Hống hòa hai tám
Hiệp lại một nhà tợ Nguyệt tinh.
Cắt nghĩa: Chữ Nam là phương Nam. Khi tôi ngồi
công phu luyện đạo, ta biết hai trái thận là hai: trái
nóng và trái nguội, ấy là chỗ chứa vựa điện nguội và
điện nóng. Trái thận là phía Bắc, còn trước trán ta
gọi là phía Nam. Khi điện từ hai trái cật xông lên tới
hai cánh tay trái và tay mặt, rồi nó xung lên trên bộ
đầu minh triết. Bộ đầu minh triết lúc bạn còn ở ngoài
trần chưa công phu thì nó bịt, bởi thế bạn công phu
Đời Đạo Song Tu | 43
điện phải chạy tung nhiều chỗ theo tám dây gân của
bộ đầu, rồi điện chạy tới chỗ chúng ta chận mí mắt lỗ
tai. Còn sợi dây gân chạy tới trước trán ngay giữa lò
lửa gọi là cái Mách của điện, tung chỗ đó phải nhiều
hơn, còn tám mối gân kia điện cũng phát tung mà
nhẹ hơn. Điện phải làm việc chánh thức của nó tại
về lò lửa phía Nam đem điện lửa nóng nguội nó phát
tung chiếu ra ngoài, bởi thế chúng ta gọi là Soi Hồn.
Soi là làm cho trống để cho Hồn điện lửa chói rọi ra
trước mặt ta, bởi thế mới cảm thông, phép đạo nói là
Huệ. Nhưng có một điều xin bạn chú ý điện là dù trí
thức huyền diệu khi chúng ta xao động thì điện ấy
không phát tung ra, còn bạn yên tịnh thì điện rút vô
chạy về chỗ cũ gom nơi trái thận phía Bắc của bản
thể. Bởi thế người ta gọi điện là một thứ lửa chạy
mau như chớp nhoáng, còn cắt nghĩa điện chạy bề
trong của ngũ tạng gọi là mình uống thuốc Phật để
trừ bịnh Sân Si.
Khi chúng ta làm việc trên ấy, điện quang chạy
vào lá gan cho bớt nóng và bớt Tham, Sân, Si rồi
chạy lại trái tim. Trái tim là một bình accu để cho
điện tụ hợp tại đó rồi điện sẽ phát trở lên ra ngoài
nơi mắt để sáng tung ra và tám sợi dây gân cũng
được thông cảm với không khí của Trời Đất.
Đây nói về chữ Mô:
44 | Đỗ Thuần Hậu
MÔ
MÔ vốn chữ Vô mỗi vật không
Từ đời vô thủy chửa phân đồng
Rồi sanh hỗn độn bao trùm hết
Mới tạo càn khôn tỏ một vòng
Đạo lý hữu tình sanh vật cả
Mẹ cha ân ái kết thai lòng
Vật người mới tạo rồi sau diệt
Vạn sự đều do chữ nhứt KHÔNG.
Cắt nghĩa: Chữ Mô chỉ nghĩa là không khí, điện
quang trên trời, phù hợp. Từ mẹ cha cấu tạo sinh ta
ra, có điện quang ấy của Trời, rồi sai một điện
nguyên tử là cái hồn thiêng liêng xuống nhập cho cái
thai.
Chỗ điện quang của Trời nhập vô thì trong cục
nhớt máu có một điểm đỏ không khác nào tròng đỏ
hột gà, trong ấy đúng ngày tháng hóa nên hình thì
chỗ điểm đỏ ấy trong cục máu bắt đầu làm bộ đầu
nơi mỏ ác. Nhưng mỏ ác có một đường lưu thông tại
xoáy bộ đầu gọi là minh triết ấy nó sẽ lưu thông tám
sợi dây gân để cho điện chạy châu lưu bản thể, cũng
phải do nguyên tử của Trời, rồi ngũ tạng cũng phải
tuân theo điện ấy, được phục vụ, làm việc sai khiến
cho thai. Thai có đầu mình và tay chơn ngũ tạng mới
biết cựa quậy la khóc, sự đau sự nhức, biết sự sống
sự chết. Đó là bộ máy thiêng liêng của không khí để
Đời Đạo Song Tu | 45
vận động ngũ tạng gọi là ngũ hành, làm việc cho
đúng theo đề mục để hành sự phục vụ nơi minh triết
là nguyên tử của Tử Trí thì ở trên bộ đầu gọi là:
"Mới tạo càn khôn tỏ một vòng"
Còn:
"Vật người mới tạo rồi sau diệt"
là do nơi điện quang mình phải biết, đó là đạo lý
mình biết. Còn:
"Mẹ cha ân ái kết thai lòng"
cũng do một phần của bản thể của mẹ cha sanh
ra chúng ta.
Nhưng Hồn ta ở trên Trời sai xuống sao không
sống cho bền bỉ như Trời mà ta phải chết, tại sao
vậy?
Thưa các bạn, bởi vì chúng ta là một vì sao ở nơi
Trời, có lỗi nghịch với Trời Đất, khi Trời sai xuống
thế gian là một trại tù, đã nhốt các Hồn tội lỗi. Khi ta
mãn hạn tù đày, ta sẽ chết và bỏ xác, Hồn sẽ trở về
cảnh cũ, quê xưa.
Chúng ta nghịch nơi Trời là như vậy: Trong bản
thể ta các bạn thấy số 1 bộ ngũ tạng là ngũ hành, rồi
kế số 2 bao tử là đất cũng ngũ hành, rồi kế số 3 là
hai trái thận là Thiên Khảm Nhứt chỉ rõ cho các bạn
thấy các tội lỗi Trời đã kêu án nghịch mạng của Trời.
Bởi thế hai trái thận là bộ khảm, Thiên Khảm Nhứt là
Trời, vì bạn thấy số 1 là ngũ tạng, số 2 là bao tử ở
trên thì nghịch mạng ấy phải chết vì bất tuân Trời
Phật. Có câu: "Thuận Thiên dã tồn" là thuận Trời ấy
46 | Đỗ Thuần Hậu
còn, "Nghịch Thiên dã vong" là nghịch Trời ấy chết
mất. Những người công phu luyện đạo bởi thế phải
kéo điện của bộ trái thận Thiên Khảm Nhứt là trời
lên trên thì thuận trời đất, cho linh hồn ta bất sinh
diệt. Rồi các bạn làm phép Soi Hồn cho các điện lưu
thông trên bộ đầu minh triết, rồi trên bộ đầu xương
sẽ nứt ra gọi là khai thiên môn chúng ta, là phép chữ
Nam. Rồi nhờ phép ấy hợp với chữ Mô, được khai
thiên môn điện ấy tung lên hợp với không khí của
trời thừa hành phận sự, trong pháp lý gọi là thuận
thiên dã tồn, Hồn sẽ về trời bất sanh bất diệt. Bởi
vậy pháp lý phải công phu luyện đạo làm cho điện
quang của Hồn gọi là thiêng liêng lưu thông và
thông cảm chữ Mô và không khí của trời.
Thưa các bạn, có nhiều bạn hỏi tôi làm sao tu về
hồn về xác, xác được sống nguyên, đi luôn về trời.
Thưa các bạn, có câu "Sanh tại thổ, quan tại thổ"
bởi vì cha mẹ chết cũng thành đất, các chuyện ở thế
gian là đất nặn nguyên hình gọi là một xác vật chất
không thể đem lại, chỉ có linh hồn được lưu thông,
nhờ chúng ta tu luyện lúc ta còn sống mà được lưu
thông. Cũng có một thứ tu hóa phép, lấy vật chất
hóa huyền diệu trong thế gian cùng tàng hình, các
phép khác v...v... gọi là Địa Tiên. Những người tu
Địa Tiên khi mãn căn rồi dấu bản thể là một xác chết
nơi kẹt đá, hay là chỗ nào cho kín. Bản thể ấy cũng
có thể thành đá, nhưng bản thể thành đá ấy không
thể tan và đời đời kiếp kiếp cũng được ở trên núi
Đời Đạo Song Tu | 47
ngao du thong thả. Rồi đúng lệ 60 năm cũng lại trở
về trời, rồi phải tu thêm lên là 600 năm mới được
thành thánh quả Trung Tiên.
Thưa các bạn, sự thong dong nơi thế gian sau lên
cõi trời phải tu lâu là hình phạt kêu án treo, đúng lệ
là 600 năm sẽ lên cực phẩm Thiên Tiên thì rất lâu
lắm, bởi thế người ta nói Hồn mà còn mê trần là Địa
Tiên. Ví dụ: một côn trùng kia là một con đỉa hay con
cua, con rắn, nhiều thứ chết ở nhằm chỗ lạnh của
người tuyết, nước và đá thì thể xác ấy cũng hóa
thành đá. Các bạn muốn biết thì ra tiệm thuốc bắc
mua một con cua thành đá gọi là thạch giác giải. Còn
ngoài ghềnh cũng có con đồng đột cùng con rắn chết
thành đá.
Vậy thì có ý chí cho ta, mà phải nhọc nhằn.
A
A vốn Bắc phương Nhâm Quý Thủy
Thận kia là Khảm về cung Tý
Người hay luyện đặng giữ trong mình
Vàng cứng tất nhiên sanh vật quý
Mới đặng Khảm Ly hòa Hống Diên
Tánh thông trời đất đồng nguyên lý
Ba nhà gom lại kết anh linh
Xá Lợi tỏ ngời trong nhứt khí.
48 | Đỗ Thuần Hậu
Cắt nghĩa: Hơi điện tại Thiên Khảm Nhứt là trái
thận. Trong trái thận có bên nóng là bên trái, còn
bên nguội là phía phải. Nóng là lửa, nguội là nước.
Trong nước lửa có điện quang nguyên tử. Điện ấy để
châu lưu bản thể, thông cảm với cơ quan ngũ tạng,
rồi trở vào Hiệp Tích, thẳng ngay lên vũ trụ minh
triết. Theo sách Pháp cũng gọi là Feu Serpent, còn
đạo cho là đường Mạch Đốc của Đức Phật đưa ra để
trừ những bịnh Tham, Sân, Si ta đã nhuốm, cũng do
nơi sự nóng phát sanh. Khi ta hô chữ A rồi thì đường
khí của Trời, của Phật phối hợp với đường Mạch Đốc
sẽ pha lẫn, thì nước lửa ấy được thanh khí mát mẻ
chạy từ từ vào ngũ tạng thì lửa căn tam muội không
phát sanh nữa, thì ngũ tạng con người trở nên hiền.
Nếu người nào học đạo được biết công phu, sự công
phu cũng có lấy cái phép mà tôi đã chỉ cho các bạn
từ bên trong cùng bên ngoài thì bịnh Tham, Sân, Si
mới thuyên giảm.
DI
DI giữ chặt bền ba báu linh
Cung Ly dứt tưởng được thanh minh
Đắp nền luyện tập công phu gắng
Chờ lúc Trúc Cơ kết quả thành
Biệt niệm trong mình Thần mới hóa
Lấy Ly bổ Khảm khí bèn thanh
Đơn điền gom lại trong không động
Đời Đạo Song Tu | 49
Tương hội ba nhà kết Thánh Anh.
Cắt nghĩa: Khi công phu luyện đạo, chúng ta biết
trung tâm giữa hai chơn mày là chỗ làm cho điện
phát sanh bay ra trước mặt ta, lúc ấy ta được gom từ
trên minh triết xuống ngay giữa và hai bên màng
tang hợp lại. Rồi ta lấy trí ý cố gắng tập trung tại đó,
điện sẽ dội xuống các cơ quan ngũ tạng của con
người, rồi điện bốc lên tại chỗ trung tâm mà tôi đã
nói. Thì trong lúc ấy có cái nguyên tử điện, cơ quan
hợp nhứt. Bởi thế trong câu:
"Chờ lúc trúc cơ kết quả thành"
Kết quả thành là năm nhóm lửa cơ quan hợp lại
làm một vòng tròn gọi là kết quả, cũng gọi là Mâu Ni
Châu.
"Biệt niệm trong mình thần mới hóa"
Khi chúng ta công phu luyện đạo phải lấy trí ý tại
minh triết bộ đầu nhớ lục tự Di Đà là vị thuốc thật
để sửa điện được ngay thẳng chơn chánh hiền đức.
Khi chúng ta công phu rồi thì điện nhập trở lại ngũ
tạng, mát mẻ không nóng giận, công phu càng nhiều
lên thì sự nóng giận nó đỡ từ từ. Bởi thế phải công
phu dày công thì điện quang ta càng ngày càng trong
hơn và sáng chói nhiều. Khi chúng ta công phu nhiều
thì điện lửa Thượng Huỳnh Đình gọi là ba nhà phối
hợp chạy lên trung tâm nơi hai chơn mày trước mặt
ta. Lúc ban đầu ta thấy nhiều đóm lửa điện như hạt
cát, rồi biến hóa ra tựa tựa như sợi chỉ chạy dài.
50 | Đỗ Thuần Hậu
Công phu nhiều thì điện lửa ấy hóa ra tròn gọi là
Mâu Ni Châu, biến thành hình bóng của ta và cũng
biết đi đứng bay nhảy, trí thức khôn khéo vô chừng
mới gọi là Thánh Anh. Chữ Thánh là thông hiểu quá
khứ vị lai. Chữ Anh là anh nhi, hình thể con người
năng biến hóa vô chừng cũng như một vị tiên vì
trước kia Đức Phật cũng nhờ sáu chữ Di Đà mà làm
ra thế.
ĐÀ
ĐÀ ấy sắc vàng muôn kiếp ghi
Tròn vo che phủ núi Tu Di
Càn Khôn bao bọc vô hình dạng
Thế giới phủ giăng chẳng hướng gì
Sắc tốt mình vàng nào hoại nát
Tâm lành tướng hảo đủ từ bi
Công phu thuần thục lên bờ giác
Đắc quả may ra vẫn kịp thì.
Cắt nghĩa: Khi chúng ta luyện đạo được hào
quang sáng chói thì chúng ta được thoát kiếp, vì
chúng ta là một linh hồn điện lửa xuống thế gian này
phải đầu thai lên xuống nhiều lần, nhưng chúng ta
chán đời không muốn đầu thai ở lại nên ta phải tu
hành luyện đạo trước, sửa đổi thân mình cho khỏi
bịnh thương hàn sốt rét... và được hưởng dưỡng khí
nhiều, sống lâu không bệnh hoạn và trừ được bịnh
Đời Đạo Song Tu | 51
Tham, Sân, Si, hóa ra người hiền, Phật cũng ân xá,
khi thác được về cảnh tiên. Nhưng trước hết ta công
phu cũng được đi về Bồng Lai thì chỉ rõ ta không đầu
thai ở lại thế gian. Vậy xin các bạn cố gắng tu thoát
kiếp chuộc tội lỗi muôn đời, Phật cũng bác ái và hoan
hỉ xá những tội lỗi mà trước kia ta đã làm.
PHẬT
PHẬT hiệu Kim Cang ở giữa mình
Hư không thân tịnh hóa nên hình
Khuyên người sớm bỏ tham sân bịnh
Thần khí phải gìn giữ rất tinh
Mười tháng công phu năng luyện tập
Ba năm công quả khá kiên thành
Trống lòng đầy bụng là giềng mối
Vạn sự quy về một chữ THANH.
Cắt nghĩa: Khi ta công phu, điện quang nương
theo Mạch Đốc chạy đến minh triết là bộ đầu. Trong
bộ đầu có chín lỗ gọi là Cửu Khiếu. Cửu Khiếu trống
nhờ Soi Hồn, thông rồi và ta cũng nhờ Pháp Luân
Thường Chuyển, khiếu ấy sẽ di chuyển từ Hạ Huỳnh
Đình cho tới Thượng Huỳnh Đình, phối hợp với
dưỡng khí của trời. Dưỡng khí của Trời hợp với điện
quang ta mới biết không già không trẻ, sống lâu cho
bản thể con người và trí tuệ thông minh cảm thông
52 | Đỗ Thuần Hậu
Trời Phật, tánh hóa trí thức để tiên tri những việc chi
sẽ đến mà ta biết trước. Khi ta xuất hồn được bay lên
trên không thì sự tham sân bịnh không còn, bởi thế
khi ta công phu phải giữ trọn vẹn tinh thần, tập
trung không xao lãng.
" Mười tháng công phu năng luyện tập"
Mười tháng là tháng 10, là mùa đông, nhờ có
tuyết lạnh. Trong lời ca ám chỉ khi chúng ta công
phu luyện đạo nhờ cái khí hạo nhiên được lạnh mát
mẻ không nóng giận thì mới có cái quả thành một vị
Phật Bồ Tát. Chữ Bồ Tát nó phong nhiều bực, về tiền
căn được hiểu rồi xuống thế gian công phu. Tùy mỗi
người, hễ cố gắng công phu nhiều thì được nhiều,
còn ai ít cũng được phần thấp hơn. Còn người không
công phu mà sáng láng ngay thẳng, khi thác cũng
được một vị Phật. Còn người u tối hung dữ hay là
khờ khạo mà cố gắng công phu luyện đạo thì cũng
thành Phật như ai mới gọi là bác ái. Phật không có
bỏ ai, tùy theo đại chúng hễ làm phải thì được thành
một vị Phật.
Đến đây đủ sáu chữ Di Đà.
Tôi xin cắt nghĩa thêm bốn câu dưới đây để các
bạn hiểu. Kệ rằng:
Giảng thành lục tự ấy ơn sâu
Kẻ đạo nghe qua phải lắc đầu
Đời Đạo Song Tu | 53
Thức tánh từ đây tua1 gắng chí
Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu.
Nghĩa là chỉ rõ sáu chữ Di Đà và công phu luyện
đạo mỗi chỗ như ngũ tạng bề trong, còn bản thể tay
chân da bề ngoài làm cho thông cảm lên trên bộ đầu
minh triết, trí ý hiểu xa thấy rộng. Chỗ này bí ẩn,
phải suy nghĩ hiểu ý mới được. Người làm đạo phải
lắc đầu là minh triết, nhưng trong ý của câu kệ này
lấy về trí ý bên tả bên hữu của điện đem hợp lại gọi
là lắc đầu. Các tục thông cảm sâu xa bí ẩn về nơi trí
ý của ta hiểu rõ mà công phu.
"Thức tánh từ đây tua gắng chí"
Là khi trí ý ta hiểu thời mới có cái tánh Tiên Phật,
rồi chúng ta lấy trí ý được mặc niệm. Chữ mặc niệm,
những người luyện đạo lâu mới hiểu được sự bí ẩn
của phép Phật đưa ra sáu chữ Di Đà này, mỗi mỗi
công phu đều có. Còn:
"Công phu ráng luyện Mâu Ni Châu"
Khi ta mặc niệm, ta phải cố công cho hết sức rồi
hồn ta sẽ dạy cho bản thể ta thêm sự mầu nhiệm của
Phật mới gọi là quy y Phật và tuân pháp Phật. Cũng
nhờ người tu trước dẫn đường người tu sau.
1
Tua: Hãy, nên.
54 | Đỗ Thuần Hậu
Đời Đạo Song Tu | 55
Nói Về Tiền Căn Nhân Quả
Chữ Tiền là tiền khiên, trước kia linh hồn ta là
một đóm lửa, gọi là vì sao để hành động, làm việc
trên Thiên Đình. Nhưng ta vì không sốt sắng, hay là
làm ác những điều chi, bởi thế phải bị tù đày xuống
thế gian. Thế gian là một cõi để phạt tội cho các
đấng linh hồn, là ngục thất thứ hai, còn Âm phủ là
ngục thất thứ ba. Ngục thất thứ nhất về tội nhẹ ở cõi
Tây Bắc do Đức Phật Nguyệt Châu Quan Phật để cho
Đức Quan Âm điều khiển. Đức Quan Âm có huyền
diệu đủ các phép biến hóa thưởng phạt vô cùng gọi
là Tiêu Diện Đại Tướng Quân. Chỗ này là một ngục
sơ thứ nhứt ở trên trời, những vì sao nào tội lỗi phải
giam lỏng để tu hành chuộc tội mà trừ cái nạn tai
của vị ấy đã làm ra, nếu lương tâm hiểu được thức
tánh thì thôi, còn làm tội lỗi thêm sanh ra phản
nghịch sẽ bị sa thải xuống ngục thứ hai là trần gian
gọi là luân hồi đầu thai.
Khi sa thải xuống thế gian cũng theo tội là nặng
hay nhẹ, nhưng tội nó có nhân quả, nhân nào quả ấy.
Chữ Nhân là một cái hột giống, loại nào theo loại nấy
tùy theo chữ nhân để phạt tội, trừng trị. Ví dụ như
một con tằm ăn dâu của người chủ nuôi, đến khi tằm
già chín, mãn hạn phải làm tơ kén chịu chết trên
chảo nước sôi để trừ tội. Còn một phần nữa tằm
56 | Đỗ Thuần Hậu
không ăn lá dâu của người chủ thì không chịu chết
trong chảo nước sôi, chính ở trời, ăn lá cây của nó
kiếm ăn, khỏi cần ai nuôi dưỡng, đến khi thành
bướm cũng bay tung lên trời như ai, rồi sẽ biến sang
giống khác. Còn cái trứng của bướm là nòi giống tội
lỗi tiền khiên phải hườn sanh ra con tằm trở lại gọi là
luân hồi. Xin các bạn biết cho đó là căn bản cũng gọi
là căn quả. Còn muốn thoát ra khỏi luân hồi này, khi
tằm hóa bướm, bướm sẽ hóa sanh ra loại chim, đó là
qua một kiếp luân hồi sanh loài khác. Có khi chim
biến hóa sang nhiều vật khác, thì sự biến sanh ấy
không kể cho cùng, tùy theo tội lỗi của nó.
Đây nói về cõi Niết Bàn gọi là bánh xe Luân Hồi.
Trong bánh xe Luân Hồi hình tròn có nhiều lỗ, mỗi lỗ
có sức hút tùy theo các loại như loại kim số 1 cho tới
kim số 10, bánh xe ấy lăn đúng số nào thì hút ngay
về số ấy. Loại lửa kim này gọi là Linh Hồn thì theo
phân lượng và phân tách để tù đày theo những bản
thể và nòi giống của nó để hành trị tội lỗi của nó.
Linh Hồn cũng phải chịu tội lỗi của Tiên Tổ của loài
người theo loại mà hành động, vì mang ơn phải trả
ơn. Ví dụ như một hột nguyên tử của loài người, các
bạn muốn biết cho rành rẽ hơn xin coi Phép Xuất
Hồn sẽ biết cái căn bản của đời tiên tổ, sơ tổ là Nhớt
hóa sanh con người rồi chia lần cho đến ngày hôm
nay cũng gọi về tội tổ tông. Những nòi giống là cục
nhớt làm nghề ăn trộm thì theo chất nguyên tử
chung trong Niết Bàn vọt ra hút xuống cõi trần gian.
Đời Đạo Song Tu | 57
Điện Linh Hồn này đi đến chỗ chất kim lực lượng của
nó hút vào làm ra một cục thai sanh loài người phải
chịu tù đày khổ sở của căn bản và phải phục vụ tù
đày vì tội lỗi do mẹ cha làm ra. Ví dụ như một vì sao
ở trên trời đi ăn cắp bông của người, làm cho thêm
tội, khi vô niết bàn chất loại kim 1, thì trong lỗ kim 1
nó hút xuống dưới trần gian, rồi nhờ khí hạo nhiên
đưa lần xuống bực nào thì phải vô bực nấy là bực ăn
trộm. Rồi xác thai ấy nhờ cha mẹ nuôi lớn lên do ăn
trộm, thì tội liên can của cha mẹ mà để lại cho con.
Đây là kể sơ mà thôi cho các bạn hiểu, còn sự tu
hành duy nhất để thoát kiếp luân hồi thì không thừa
tiếp những tội lỗi trên, nếu chúng ta được tu đến cõi
Trung Thiên đã thoát kiếp. Thoát kiếp là Linh Hồn
tan rã rồi tụ lại nguyên hình bóng. Rồi chúng ta tu
thêm một lúc nữa sẽ đi lên cấp khác, không còn sợ
sệt, thoát kiếp luân hồi mà trả nợ tiền khiên. Phật
ngài ân xá để cho những người cố tâm tu hành cải ác
tòng thiện. Phật cũng từ bi ân xá tội lỗi của chúng
sanh, nên tôi khuyên các bạn tu luyện đạo để thoát
kiếp luân hồi làm cho đời ta minh mẫn không tội lỗi.
Nếu không tội lỗi là người trắng án được tự do thong
thả giao du trên chốn Bồng Lai để hưởng thú thanh
nhàn.
Đến đây tôi xin gác lời. Khi nào bạn qua giai cấp
tôi sẽ chỉ thêm về bí mật chơn tu. Nhưng khải huyền
huyền thiên hai mục này không nên chỉ trước. Nếu
58 | Đỗ Thuần Hậu
chỉ mà bạn thấy rõ thì tương lai là làm cho cao kiến
hơn. Chỉ không rõ là Đạo thành ra nô đùa.
Thôi kính chào các bạn.
Đời Đạo Song Tu | 59
Nói Về Chữ XUẤT HỒN
Như thế nào là Xuất Hồn?
Chữ Xuất Hồn: nghĩa là làm cho hồn ra khỏi bản
thể.
Hồn là một đóm lửa điện quang trong bản thể,
thâu gồm lại. Bản thể là một hình tượng, chỗ của
hồn. Hiện nay ta muốn đi về Bồng Lai tiên cảnh,
nhưng ta biết bản thể ta là một xác trần nặng nề,
mang đi đến cõi không không sẽ bị lửa vô hình nó
cháy tiêu diệt, bởi thế ta phải cậy điện hồn ta đi.
Tại làm sao ta gọi chữ Xuất là ra?
Vì ta phải gom điện của cơ quan lục phủ. Cơ quan
lục phủ gọi là Trung Huỳnh Đình, Hạ Huỳnh Đình
gom lại vào chỗ Hiệp Tích, bản thể dắt dẫn theo chữ
Sơn , rồi đem lên chữ Sơn . Chữ Sơn là Ngũ
Hành Sơn gọi là lửa ngũ tạng, trong ấy có ba phần.
Trung Huỳnh Đình là lửa của trái thận, lửa của trái
tim, lửa của bao tử, ba thứ này hợp chung lại dắt dẫn
lên trên hợp với sơn căn. Chữ Sơn ở trên là ba số gọi
là Vũ Trụ Tinh Khí Thần hòa hợp gom lại. Khi lửa
hòa hợp lại hướng Nam dương ngọ thì bạn cũng biết
cho thứ lửa là sự nóng, đụng đầu thì phát sanh, phát
triển tung tăng thúc đẩy đưa ra ngoài. Bởi thế đóm
60 | Đỗ Thuần Hậu
lửa nó làm cho ta được đi chơi và chiếu sáng thấy
cảnh vật trên Thiên Đàng bao la vòng trời đất, đóm
lửa này cũng như một cái gương kiếng. Ví dụ như
bạn cầm một cái kiếng bạn rọi lên Trời, nhờ ánh
sáng của mặt trời chung với ánh sáng của gương
kiếng thì bạn thấy nào là mây, mặt trời, sao cùng cây
cối vạn vật ở dưới thế gian, tóm tắt là muốn ngó đâu
là thấy đó. Còn cái gương kiếng là cái bản thể của
bạn thì bạn ngó ngoái lại chỗ bạn công phu, tịnh thì
tức nhiên bạn thấy hình ảnh bản thể của bạn. Nhưng
bạn phải biết cho khi bạn gom các lửa điện xuất hồn
cũng còn một thứ lửa cặn bã để cho vía làm việc bản
thể. Trong bản thể có một thứ khí Âm làm chủ
trương cho điện để hoạt động hằng ngày thì bản thể
mỗi mỗi nó chiếu sáng gọi là Vía hình bóng. Khi Hồn
là chất điện chủ trương của bản thể gọi là chủ nhân
ông. Khi ngó ngoái lại muốn thấy bản thể thì phần
hồn là một gương kiếng sáng suốt chói với điện
quang gương kiếng của bản thể. Bản thể là một
khuôn mẫu hình dạng con người. Hình dạng con
người là một cái gương kiếng của vía. Bởi thế hai sự
sáng chói lọi giữa có bản thể, bản thể ấy nhờ có
chiếu sáng rọi mới rõ hình thể của ta đương ngồi
công phu. Cái hình thể cũng như một cái gương
kiếng dưới, còn trên là một cục lửa hồn, thì hình tròn
của cục lửa hồn là một cái gương kiếng của hồn hợp
tác gương kiếng trên và dưới hóa đủ hình bóng của
bản thể ta đương ngồi công phu không sai lầm chi
Đời Đạo Song Tu | 61
hết. Vì điện hồn ấy theo cái đường chói của nó xuất
hồn thì nó không bao giờ chói lạc chỗ nào hết, chói
tới hoặc chói lui thôi, chói tới để thấy cảnh trời, thiên
đàng, còn chói lui để thấy bản thể.
Chữ Hồn
Như thế nào là Hồn, xin trưởng huynh cho biết?
Thưa các bạn, chữ Hồn:
Chữ cạnh bên gọi là chữ Vong có nghĩa là mất,
chết. Mất là điện đi mất, mình mẩy bản thể lạnh hết,
mất thở, tay chân mất cựa quậy, mắt đứng tròng
không láo liên chỉ nghĩa là điện thanh tan theo gió.
Còn chữ là chữ Quỷ. Khi bản thể chết thì phải
cất xác vào đất, trong 49 ngày bản thể tan rã, thịt
phải phá hủy gọi là sình. Còn một thứ hôi thúi chúng
ta để ý dòm ngay nơi đó thấy khói đen như khói của
lửa đốt. Cái khói đó là một cái lửa nguyên tử của vía
hợp thành, khi khói bay ra theo gió cách xa đôi ba
thước tây sẽ hạ xuống đất không thể bay nổi nữa.
Chỉ rõ về phần Hồn, khi chúng ta ngồi công phu
luyện đạo, điện tụ họp trước trán ta gọi là hướng
Nam dương ngọ, phát ra một cục lửa tròn vo sáng
chói nhiều màu, bay qua lại vẩn vơ trước mắt ta, đó
là Hồn. Hồn là một vật chất lửa nguyên tử thiêng
62 | Đỗ Thuần Hậu
liêng, nhưng hồn cũng do nơi cái nguyên tử trí ý của
bản thể của con người mà ra cho nên nó khôn lắm,
khi động thì rút vào bản thể, khi tĩnh thì phát ra.
Chúng ta là một người tu để sửa lửa máy cơ quan,
công phu luyện đạo mới xuất hồn bản thể ấy, còn
những người không tu thì không thấy hồn cục lửa.
Nếu chúng ta muốn tu cho thấy hồn thì phải sốt
sắng, tự ta ta biết hồn ta. Nhưng hồn này quý báu vô
biên, có công phu luyện đạo thì trí tuệ sáng suốt
thông minh gọi là Huệ. Huệ là gương. Huệ cũng như
gương kiếng hợp với khuy thiên cảnh của trời. Khuy
thiên cảnh của trời là một nguyên tử của vũ trụ cũng
như người có hồn. Đến đây tôi xin ngưng không thể
cắt nghĩa chữ khuy thiên cảnh, để một ngày kia bạn
được rõ biết, công phu có điện quang Mâu Ni Châu
mới cắt nghĩa được. Còn chữ Hồn đây tôi sẽ nói
xuống để cho bạn dễ hiểu hơn. Thường khi có người
chết bất đắc kỳ tử như một người thắt họng, khỏi đất
chừng 5 tấc tây hay là một thước thì có một thứ máu
của điện rút vào dưới đất. Kể từ ngày người ấy chết
cho đến 7 ngày thì bạn nên đào chỗ hai ngón chân
cái của người chết bạn thấy có một cục máu dưới đất
thì bạn được hiểu như vậy. Cục máu này kể từ ngày
đã thác đến 49 ngày chẳng hạn, ngày nào mỗi đêm
phải trông nom thì có một đóm lửa phát sanh lên
khỏi mặt đất bay đi hơi chậm vu vơ theo gió. Nhưng
mà bạn cũng biết cho, cục lửa này được bay đi theo
đường khiêng xác của xác, người ta gọi đó là một
Đời Đạo Song Tu | 63
hồn thư. Hồn thư chỉ nghĩa là hồn của thây là bản
thể xác chết. Cũng có một thế khác nữa, bạn thường
thấy trên một nấm mả của người thác trong ban đêm
có một ngọn đèn vẩn vơ nơi mả, ngọn đèn ấy là lửa
của hồn thư. Người thế gian cho là ma, nhưng theo
khoa học đó là cái khói hôi thúi của xác thịt trong
đấy có nhiều mỡ với máu hóa thành một thứ acid
naturel, khi trời mát trong lúc ban đêm nó được hơi
nóng của mặt trời ban ngày xuống dưới nấm đất mồ
ấy rồi rút đóm lửa hồn acid naturel lên.
64 | Đỗ Thuần Hậu
Như Thế Nào Gọi Là Chữ VÍA ?
Chữ Vía:
Chữ Phách gọi là bóng vía.
Chữ cạnh bên gọi là chữ Bạch. Chữ Bạch chỉ
một thứ khí trong sáng suốt ở nơi theo máu thịt con
người cùng da.
Chữ là chữ Quỷ. Chữ quỷ có nghĩa là hoạt
động châu lưu bản thể. Hoạt động châu lưu bản thể
cũng như đầu mình tay chân cùng da, nó được tuân
theo Hồn là Tâm Ý Trí.
Khi tâm ý trí nhứt định thì phách là vía được
tuân lịnh tức khắc không bê trễ để hoạt động tay
chân cùng những vật nơi xương da. Ví dụ như trí ý
của bạn muốn dơ tay lên thì phách là bóng vía phải
lập tức thi hành theo ý trí của các bạn muốn. Ví dụ
một lẽ khác, bạn lấy một thứ lửa bạn dơ gần nơi da
bản thể, cách một phân hoặc ba phân tây thì trong
trí ý bạn được biết nóng. Đó là phách bóng vía đã
báo tin cho trí ý hay là hồn để hồn quyết định cho
bản thể khỏi lâm nguy, tránh cho khỏi nạn của bản
thể.
Đời Đạo Song Tu | 65
Tại làm sao vía phải làm việc cho hồn?
Vì hồn là một chủ trương của bản thể ở nơi trong
cơ quan trí thức, còn vía ở nơi ngoài bản thể phụ
thuộc. Nhưng vía ưa nhát sợ các nạn, nếu bản thể có
bị nạn thì vía nó biết đau, biết khổ, nhức nhối khó
chịu cho nên vía phải siêng năng giữ bản thể là chỗ ở
của hồn phía trong, còn vía phía ngoài phải giữ tròn.
Ví dụ một lẽ khác, cũng như một con muỗi nó cắn
bạn thì bạn biết đau liền, đó là vía làm việc thông tri
cho hồn hay, hồn dạy cách nào thì vía phải làm y.
Chữ vía có nghĩa là bóng vía, nhưng cái vía tại
sao lại gọi là bóng vía?
Bóng là hình thể, như bạn lấy một ngón tay đưa
lên, bạn ngó thấy có một cái bóng đen nhờ cái không
khí (lumière) của trời nó chiếu thì bạn thấy cái bóng
tối đen một ngón tay. Ví dụ một thế khác, như bạn
chụp hình một người đang sống thì hình ấy được
rành rẽ tươi tắn, còn bạn chụp hình một người chết
thì hình ấy không chói sáng trong trắng, thì chúng ta
cũng biết màu lửa chói lọi tươi sáng đó là cái vía.
66 | Đỗ Thuần Hậu
Nói Về Chưởng Anh Nhi
Chữ Chưởng Anh Nhi theo sách Tánh Mạng Khuê
Chỉ có chỉ rõ cách làm, tu luyện đạo nhưng trái với
Pháp Lý vì sách Tánh Mạng Khuê Chỉ trước kia người
ta biểu làm nội tức, tức là thở phía trong không cho
thở lỗ mũi, ngưng hơi thở nơi trong bụng chỗ rún gọi
là Tề Luân Hư Cảnh để cho cái hồn tụ họp lại đó, lâu
ngày ngưng tụ biến hóa gọi là khí hòa hình làm cho
cục lửa linh hồn tụ tại đó rồi cục lửa ấy hóa ra bản
thể như một cái thai người đàn bà chửa nghén.
Những người tu theo Tánh Mạng Khuê Chỉ nói cũng
như một con tằm ăn dâu kéo chỉ làm ra một ổ kén rồi
con tằm ấy thun lại biến nhỏ, lâu ngày hóa thành con
bướm là côn trùng biết hoạt động bay nhảy. Còn
pháp lý nghiên cứu hồn và vía là một thứ lửa thiêng
liêng có huyền diệu biến hóa vô cùng, nó muốn thế
nào cũng được do nơi huyền diệu pháp mầu của Trời
Phật. Ví dụ như một hình bóng ma nó đã mất bản
thể tại sao nó được hóa hình bóng. Còn ta tu học cái
chết để xuất hồn thì xuất hồn cũng như ma quỷ biến
hóa vô cực biên. Sự nghiên cứu này lấy rõ thì ta thấy
như một người đàn ông đang tu, trong bụng không
bọc con làm sao có chửa được? Thai ấy để nơi đâu?
Còn một cô phụ nữ tu theo pháp môn, không chồng
sao được có chửa? Có chửa là nhờ khí âm dương hợp
phối mới được. Đây kể sơ cho bạn được hiểu mà thôi.
Đời Đạo Song Tu | 67
Nói về Chưởng Anh Nhi của pháp lý, khi chúng ta
công phu luyện đạo, trước thấy hào quang sáng chói
trước trán ta, rồi công phu lâu ngày hào quang ấy
phối hợp thành cục Mâu Ni Châu. Mâu Ni Châu là
cục lửa lớn tròn, khi tỉnh trí an thần nó sẽ xuất hiện
trước mặt ta, nơi chỗ điện trung gian trước trán và
chơn mày. Khi bạn công phu được lâu thì cục Mâu Ni
Châu nhờ sự chói lọi của bản thể, rồi bản thể của vía
chiếu ra hợp với nguyên tử lửa của hồn tức thì bạn
thấy bản thể của bạn, khỏi nhọc công chưởng anh
nhi như pháp Tánh Mạng Khuê Chỉ. Mục đích này
chỉ rõ cho bạn thấy tượng của Đức Phật Thích Ca
chạm ngay giữa trên mặt trung gian nơi hai chơn
mày. Theo hình tượng của Đức Phật thì bạn thấy
công phu của ta nơi đó làm y theo Đức Phật Thích Ca
thì sự huyền diệu của hồn cùng vía là Mâu Ni Châu
biến hóa vô cực vô biên cũng như Đức Phật trước kia
luyện đạo. Chúng ta ngồi công phu mà Mâu Ni Châu
nẩy nở, đó là Phật công nhận một người môn đệ của
ngài gọi là kết quả nghiên cứu về pháp lý.
Việc xuất hồn của pháp lý như thế này: Hồn là
một đấng thiêng liêng biết trên trời dưới đất quá khứ
vị lai mới gọi là một đấng thiêng liêng, có huyền
diệu năng biến hóa vô hồi. Còn hình ảnh bản thể của
thiêng liêng nó cần để hiểu trước và hiện diện chơn
thanh gọi là bản thể quy nguyên hợp nhứt. Vì nó ở
trong bản thể xác thân, nó được quy nguyên, nó
không cần phải làm cho có Chưởng Anh Nhi. Chưởng
68 | Đỗ Thuần Hậu
Anh Nhi lẽ ấy cũng éo le lắm vì khi hồn đã nương
tựa với bản thể lâu rồi, đã mấy mươi năm hồn khôn
lớn rồi mà biến sinh nhỏ lại thật khó cho hồn. Còn kẻ
công phu luyện đạo phải ngưng lại trong ba năm kể
cũng khá lâu nên pháp lý khi công phu luyện đạo tập
trung hồn vía đến Minh Triết là bộ óc con người mà
tập cho xuất Mâu Ni Châu thiêng liêng cũng lâu thì
sự huyền diệu của nó hiểu biết phần hồn, có hồn có
vía thì có bóng xác bản thể tốt hơn. Khi công phu
luyện đạo tu được dày công, đã dắt hồn lên tới minh
triết là bộ óc và tập luyện cho nó, khai thiên môn đi
ra ngoài được, nó thấy bầu trời thế giới bao la thì nó
nhớ cảnh cũ quê xưa của nó trước kia, nó mong đợi
trở về nơi chốn cũ quê hương. Bây giờ các bạn không
cần nhắc đến nó cũng hóa đủ hình dạng phép tắc nó
đi gọi là huyền diệu thiêng liêng, không cần chi mà
phải nhọc nhằn như sách Tánh Mạng Khuê Chỉ, cho
người công phu luyện đạo lấy làm vắn tắt phương
tiện.
Đời Đạo Song Tu | 69
Như Thế Nào Gọi Là PHẬT ?
Cắt nghĩa chữ Phật:
Phật là một người có điện quang:
Dấu phết xuống gọi là khí hạo nhiên nguyên
tử của trời và đất hợp với vũ trụ, xương sống loài
người, sanh ra người, để làm bản thể khi Phật xuống
trần. Do nguyên tử phối hợp thành người cho nên
gọi là Âm Dương Hiệp Nhất Chi Nhơn, là cùng
hợp.
Chữ người biết được đạo là Đức Phật, chữ
khung là vòng tròn phong trời đất, bọc những dưỡng
khí và không khí đồng thời Phật lấy dương khí và
không khí hợp với dấu và dấu
Dấu là vũ trụ Âm
Dấu là vũ trụ Dương.
Vũ trụ là một thứ lửa thanh khí của hai loài. Nó
tung lên hoặc tung xuống, hợp nhất đem vào bản thể
con người của Phật hóa ra lửa hào quang chiếu sáng.
Vậy người có lửa hào quang gọi là Phật. Chớ Chư
70 | Đỗ Thuần Hậu
Phật không có chức phận gì. Người làm có điện gọi là
Phật, cũng không phải tên, nhưng có bản thể do nơi
người trần thế cấu tạo thành ra hình thể con người.
Nhưng người Phật này biết làm hào quang điện lửa
gọi là Phật rồi người ta thấy người có hào quang ấy
thì phục tùng để nghe ngài truyền bá gọi là Thích Ca
Mô Ni Phật.
Chữ Thích là giải nghĩa.
Chữ Ca là ca tụng tuyên truyền.
Chữ Mô là mô giới mục đích của công chuyện làm
có hào quang.
Chữ Ni là làm như vầy, như vầy theo mục đích
của ngài để sanh ra đạo.
Đạo là cao thượng, cao siêu, vô cực vô biên. Bởi
thế người đời sau không được rõ, theo sách vở gọi là
Đạo, vì đã mấy ngàn năm khuất mắt ta, chúng ta
được tin mà không thấy được. Nhưng chữ Đạo ai ngờ
được, không được rõ mà cho là đạo là giả đạo, tên
cũng giả tên, không phải tên. Những người trần gian
muốn làm có hào quang như Phật Thích Ca đi tầm
những người làm được chút ít huyền diệu gọi là tầm
đạo. Rốt cuộc người nào làm người ấy thấy gọi là Vô
Vi.
Vô Vi là bí ẩn, ai làm nấy thấy, nấy được.
Chữ Vi là vật chất, thuộc về nhân nghĩa, lễ, trí,
tín, thuộc về đường đời (thuộc Lão Giáo,...).
Trong Lão Giáo hỏi bản thể:
- Mầy có bản chủ chớ ?
Đời Đạo Song Tu | 71
Tức nhiên có chủ là phần hồn phụ thuộc bóng
vía, để làm việc cho bản thể hiện con người trần gian
đây.
Nhưng làm người phải biết lễ nghi khuôn phép và
nhơn từ, điều này cũng do nơi nhà Phật truyền bá.
Bởi thế Đức Khổng Tử là một người thông minh nên
ta gọi là Thánh.
Chữ Thánh
Thế nào là Thánh?
là chữ Nhĩ là lỗ tai. Huệ Nhĩ là cảm thông trời
đất cùng thế gian.
là chữ Khẩu. Huệ Khẩu là cái miệng để nói
thông minh chính trực và ngay thẳng cùng lễ nghi.
là chữ Vương là làm vua, chủ trương trong hai
điều trên, nhưng trong thế gian nhiều người ăn nói
không bằng ông nên gọi ông là Thánh. Ông Thánh
được lễ nghi khuôn phép. Nhưng sự thông minh ấy
nếu bởi trời sanh mới gọi ông Thánh. Nhưng mà
người đời sau tưởng mình cũng thế, cũng bản thể
như người, nhưng mà phải học với người bởi thế tôn
sùng ông mà gọi là Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, cũng
khen người ăn nói có mực thước, lễ nghi, thông trời,
72 | Đỗ Thuần Hậu
hiểu đất. Sự thông hiểu ấy nhiều người thế gian
không hiểu được, cũng do nơi nhà Phật truyền bá.
Ăn nói có mực thước:
Khi Đức Khổng Tử được cảm thông thì Đức
Khổng Tử mới hỏi lấy Đức Khổng Tử: "Ta có linh hồn
cùng xác thịt của cha mẹ sinh ra, nhưng linh hồn ấy
ở đâu?" Thì ngài hỏi ngài, ngài được hiểu, cái hiểu ấy
tự Trời cho, không ai hiểu được gọi là Thông minh.
Khi ấy ngài hỏi lấy ngài: "Vậy chứ ta ở đâu mà xuống
thế gian?" thì chủ nhân ông (2
) của Đức Khổng Tử
nói: "Ta xuống thế gian để làm gì? Làm những đề
mục gì?" Đề mục là Chánh Tâm, Tu Thân gọi là lấy
cái Tâm Chánh để rèn luyện, khắc kỹ phục lễ, ta phải
chịu khó nhọc, chịu phục lụy bản thể ta, mới có lễ,
và làm năm mục như sau: Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín,
rèn luyện cho tánh của ngài được hiểu biết.
Làm như thế, làm xong rồi thì về đâu? Thì chủ
nhơn ông của Đức Khổng Tử nói làm xong được về
chốn cũ, gọi là về Thiên đàng.
Bởi vậy bản thể ngài mới hỏi: "Ở trên trời
xuống thế gian để làm gì?"
2
Chủ Nhơn Ông là Hồn.
Đời Đạo Song Tu | 73
1. Là trên trời xuống.
2. Là thế gian.
3. Là đề mục theo trên do nơi thước nách tam
giác của Phật ngài truyền bá cho Đức Khổng Tử thay
mặt giáng trần cứu thế, hợp cùng đạo Khổng thánh
để dạy những người thế gian cho biết Nhơn, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín. Bởi thế có câu tục ngữ nói : "Người này
ăn nói có mực thước". Nhưng mà mực thước ấy nào
ai được biết?
Có câu tục ngữ:
"Dò sông dò biển dễ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người"
Bởi thế câu trên đây bí ẩn: Nào được biết thước
mà đo lòng người? Nhưng cây thước ấy Phật ngài đã
cho Đức Thánh Nhơn hiểu, truyền bá cho người.
Những người thường nhơn cũng có nhưng không
thông. Đây tôi xin chỉ cho các bạn, khi chúng ta công
phu luyện đạo, trước trán ta nơi ngay đóm giữa nơi
chơn mày chỗ nơi công phu luyện đạo là do nơi tiên
Cửu Khiếu, số 1 hình tam giác gom trước trán ta.
74 | Đỗ Thuần Hậu
Trước trán ta có tai và mắt, hai bên gọi là số 2 và 3
để thông hiểu lý sự. Nếu không có thước như vậy thì
nào hiểu được sự đời quá khứ vị lai. Rồi từ đó trước
trán xuống hai vai cũng có một tay thước tam giác
như vậy. Rồi bạn chống hai tay và xếp bằng cũng có
thước, như vậy truyền bá tất cả trong con người có
tam giác. Tam giác ấy để hiểu biết lễ nghi khuôn
phép, thấy xa trông rộng, cung kính Thánh Thần,
quấy phải, quá khứ vị lai gọi là Mực Thước chớ lòng
người ai mà đo đặng: chỉ lời nói và trí ý thông hiểu
thôi.
Chữ Tiên
Là Nhơn bằng chữ Sơn gọi là Tiên. Theo Pháp lý
đạo Vô Vi phải biết:
Dấu phết ở trên xuống gọi là điện quang của
Trời Phật làm việc khắp trong thế gian.
Dấu một sổ tung xuống gọi là Vũ Trụ, từ Đất
phối hợp với Trời Phật sanh ra dưỡng khí để chưởng
quản luồng sóng điện khắp thế gian sanh sanh hóa
hóa. Nhơn vật cùng thảo mộc nhờ điện ấy mới sống
được gọi là Dưỡng Khí phối hợp, cho là Âm Dương
hiệp nhứt chi nhơn.
Những người tu hành luyện đạo ngồi công
phu lấy cái sổ tung với đi ngang giữa, rồi
Đời Đạo Song Tu | 75
lấy đem lại hợp với sổ tung ngay giữa, gom
luồng điện ấy tại nơi trước trán theo chữ Nho gọi là
Sơn Căn, còn theo pháp lý gọi là Tinh Khí Thần phối
hợp cho tụ ngay giữa chỗ hai chơn mày. Lấy chơn
tánh gom lại ngay giữa nơi ấy để cho điện phát ra thì
mới có hào quang. Bởi thế Đức Thích Ca hay là Đức
Di Đà có dấu hào quang ở giữa trán ngay chơn mày.
Tinh khí thần tụ họp lại phát điện, những tia chiếu
sáng chung quanh mặt của Phật gọi là hào quang.
Khi điện phát sanh có tia sáng cũng gọi là Như Lai,
và nhờ bản thể ta có cái ý hợp lại rồi ý phát điện hợp
lại gọi là Như Lai Phật. Nhưng những người công
phu ít hơn Phật rồi tới số hết căn đày đọa — trong
lúc chúng ta ở trên Trời bị tội xuống đây mấy chục
năm sẽ trở lại, nhưng những người mê trần được
phân nửa số lưu đày rồi tỉnh trí an thần hiểu biết ở
thế gian là người có tội và chán đời phát nguyện đi
tu thì công phu ít — kế thác thì chức ấy gọi là Tiên.
Chữ Thần
Chữ gọi là chữ Thi, là chứng kiến, là làm việc
ngay thẳng trước mặt thế gian, không chịu dạy dỗ
gian tham, một tánh, một trí, một ý ngay thẳng mà
thôi. Không nghe ai dạy dỗ, cũng dám phạt những
76 | Đỗ Thuần Hậu
người không ngay thẳng, gọi là Trung Can Nghĩa
Khí.
Chữ gọi là chữ Thân là làm việc hiện tại ngay
thẳng cho đến chết, một tánh, một ý mà thôi. Những
người này khi chết linh hồn cũng ngay thẳng. Về
chức phận hiện tại ở thế gian dầu sống dầu chết thì
chung như nhứt, khi chết linh hồn cũng được làm
việc trong thế gian. Trong thế gian cũng có một chỗ
gọi là Âm Phủ, nhưng con mắt trần không thấy, để
trừng phạt và ban thưởng những ma quỷ cũng là
những người gian tham quá ác, cùng sự oan ức thế
gian xét không được thì xin mời thỉnh Ngài để sửa
phạt.
Ví dụ như Đức Quan Công hay là Quan Thánh Đế
Quân gọi là người trung can nghĩa khí.
Cũng có khi người làm việc cho nước có sự ngay
thẳng, khi thác được chức Thần.
Chữ Thi là thiệt thà, ngay thẳng, chánh đáng.
Chữ Thân là bản thể hồi ở dương thế làm việc
ngay thẳng. Những người này có xác thân hiện ở tại
dương thế, khi thác chôn tại Trái Đất thì linh hồn
được làm Thần.
Chữ Thi, nó thông đồng để xét việc ngay
thẳng, xử đoán phân minh cùng được cáo báo cho
Âm Phủ cùng trên cõi Thiên Đàng với Đức Ngọc
Hoàng Thượng Đế phán xét chuyện ấy.
Đời Đạo Song Tu | 77
Còn chữ Thân được ra vào nơi mồ mả của
người và chưởng quản các chơn linh trong vùng ấy
để ngài làm việc từ đâu đến đâu. Còn nhiều Thần
cũng phải cắt công chuyện làm từ đâu đến đâu, có
ranh giới kỹ lưỡng cho mỗi vị Thần để làm việc.
Chữ Yêu
là do cái thanh khí của Tiên Phật để sanh sanh
hóa hóa, còn lại là cặn bã. Cặn bã này cũng có căn
bản của Phật Tiên cùng Trời cho nên cặn bã này có
được cảm thông Thiên Đàng cùng nhân gian, cũng
có căn cứ của Chư Tiên, chư Phật mà hóa sanh nơi
trên trung thiên không khí. Loại yêu này ở trên
không khí từ nhiều năm tài phép cao siêu chỉ thua
Tiên Phật mà thôi.
chữ ngang qua là chữ Nhứt, do nơi khí hạo nhiên
cùng thanh khí của Nhựt Châu Quang Phật và
Nguyệt Châu Quang Phật hợp thành rồi biết tu hành
luyện các phép cũng được làm một môn đệ của Tiên.
Chữ Nhơn thì cũng biến hình dạng người ở
trên trung thiên không khí, chỉ dưới bực Tiên thôi.
Những loại yêu này nó ẩn ánh các khóm mây, không
đầu Tiên Phật, cũng có thứ làm môn đệ của Tiên.
Nhưng loại yêu này được nhờ thanh khí trung thiên
sống lâu mấy ngàn năm bởi vì là cặn bã nguyên tử
78 | Đỗ Thuần Hậu
của thanh khí trung thiên hóa hình chớ không là xác
thịt, thường khi người ta cũng gọi là Đạo Yêu. Yêu
học đạo của Tiên và Phật gọi là Đạo Yêu. Loại Yêu
nào không học đạo cho là Yêu, nhưng Yêu có đạo thì
biết kính trọng Trời Phật rồi cũng thành Trung Tiên
và Thiên Tiên. Còn Yêu nào không học đạo, không
biết phải quấy lễ nghĩa, không tùng quyền Trời Phật,
khi làm bạo động, khi Trời Phật bắt đặng cũng bị tù
đày cùng làm cho tiêu diệt.
Chữ Yêu chúng ta không biết cho là người
thường chớ sự thật cái căn bản của Yêu nó là cặn bã
nguyên tử thanh khí trung thiên chớ không phải nhỏ.
Chúng ta còn ở dương thế thì linh hồn của chúng ta
thấp thỏi hơn Đạo Yêu này. Khi chúng ta được xuất
hồn, được đi lên thiên đàng cõi Phật thì thấy một lũ
đạo xương đi trên không, đó là Yêu Đạo. Những đạo
xương này tánh hiền không bắt buộc linh hồn ta, khi
chúng ta hành động không phải thì cũng có tội như
ai, còn đạo yêu này cũng vậy. Bởi thế ai cũng muốn
lên cao và thong thả thì không thể tranh giành làm
hại ai, mới gọi là trên bầu trời được tự do đi đứng.
Chữ Tinh
Chữ Nhựt (số 1) gọi là một đóm lửa của hồn
người sống cùng hồn người chết. Trong hai đóm lửa
Đời Đạo Song Tu | 79
này cũng có thể biến hóa thành Tinh Quỷ nhưng tinh
này có xác.
Chữ Nhựt (số 1) là nhóm lửa ánh sáng của
trên Trời cho xuống gọi là Hồn, nhưng bị bất đắc kỳ
tử của bản thể mất đi cũng có thể làm Tinh được.
Chữ Nhựt (số 2) và (số 3) của người sống
hợp lại cũng có thể làm Tinh Quỷ được.
Chữ Nhựt (số 1) khi người chết oan thì có một
cục máu ngay chỗ bản thể con người từ mặt đất rút
xuống 3, 4 tấc tây đọng tại đó một cục máu dưới bản
thể của người chết. Cục máu ấy nhờ có mặt trời mặt
trăng khí âm khí dương phối hợp cùng. Cục máu linh
này biết luyện phép hốt khí âm khí dương vào rồi
một hình dạng có xác dị hình dị dạng, vật cũng
không đúng vật, người cũng không đúng người, khác
hơn thế gian nào hết. Bởi thế người ta thấy những
con vật lạ thường cho là Tinh Quỷ. Tinh Quỷ này
cũng có thể ăn thịt và bắt người, làm lộng trong thế
gian, chỗ rừng núi âm u tà tinh ưa ở.
Cũng có một lẽ khác như có một số người ở nơi
rừng núi âm u ăn củ ngải nóng có sức mạnh để đi
vật thú rừng đem về nhà làm thịt đặng bán làm thực
vật bảo đảm gia đình. Nhưng những người này ăn
nhiều củ ngải quá sức nóng bội phần không thể trở
về nhà. Từ đó ở ngoài rừng quên gia đình vợ con rồi
80 | Đỗ Thuần Hậu
biến ra mọc nhiều lông nanh vuốt, mặt gồ ghề, đa
dạng. Người tinh này không thể ăn cơm, cứ bắt loài
vật ăn thịt sống, cùng ăn đến thịt người chẳng biết
nòi giống. Nhưng xin các bạn nhớ rằng loại này đã
lâu năm ở rừng rú có năng khiếu tựa như người rừng
hay là loài khỉ vượn, nhưng loại này lớn hơn các loài
khỉ vượn, nhảy nhót lẹ làng.
Tại sao những người ngậm củ ngải quá nóng
sanh khùng điên nhưng chỉ biết ngó mặt trời ngó
mặt trăng hít khí là do nơi sức nóng bản thể của
người đó quá lực lượng rồi hợp bởi khí nóng của mặt
trời cùng mặt trăng mới được sanh hình tướng dị
dạng và nhảy nhót chạy nhảy không có định được,
bởi thế không khôn hơn con người.
Đời Đạo Song Tu | 81
Đây nói về chữ QUỶ hay là con quỷ
Quỷ có hai thứ. Quỷ: chết bất đắc kỳ tử là do nơi
xác thịt bị người trong thế gian lấy thế mạnh hiếp
thế yếu để tàn sát giết bản thể người ấy vì người ấy
chưa đúng số chết. Chưa đúng số chết là chưa mãn
kiếp tù tội của Trời Phật đã phạt đưa linh hồn xuống
thế gian, thì bản thể người này gọi là chết bất đắc kỳ
tử thì được thành Quỷ, khi mãn hạn tù tội thì sẽ trở
về nơi Tiên Phật.
Chữ Quỷ
Dấu phết trên là điện quang của Trời Phật sai
xuống thế gian.
là chữ Điền, điền gọi là Điền thổ, khi chết thì
xác thân phải chôn dưới đất, phát lên một ngọn lửa
gọi là lửa điện, khi trước trên Trời ban xuống gọi là
Linh Hồn.
Dấu phết và sổ kéo qua đá lên gọi là chữ Ngột
. Chữ Ngột không được vào Âm Phủ mà cũng
không được lên Thiên Đàng để cho linh hồn cáo oán
sự uất ức của nó.
82 | Đỗ Thuần Hậu
Chữ Mõ là công chuyện uất ức của nó vào
trong khối nguyên tử. Bởi vì xác thịt đã bị tan rã thì
sự uất ức của nó phải chui vào khối nguyên tử.
Nhưng sự sống ở thế gian cũng như sự chết là
chỗ tù đày hành hạ, không biết nương dựa vào đâu
gọi là Oan Quỷ. Oan Quỷ nghĩa là uất ức oan khiến
thành quỷ trong mục đích mà nó ẩn vào khối nguyên
tử.
Đây nói về chữ quỷ thứ hai gọi là Phi Quỷ.
Quỷ này được bay lên Thiên Đàng cùng xuống
thế gian và âm phủ gọi là Quỷ Địa Tiên.
Chữ Quỷ Địa Tiên có chữ Phi ở dưới thì được cảm
thông thiên đàng, nhân gian, âm phủ. Còn quỷ cao
hơn nữa là Quỷ Phật Tử. Quỷ ấy cũng như chữ Phi
Quỷ mà có ba ngoéo tròn phược lên. Ba ngoéo tròn
nghĩa là huyền diệu của cục nguyên tử, Tinh Khí
Thần phược lên là thông cảm tam từng.
Ví dụ như ông Phật lớn đang ngồi tịnh, còn các
hàng Phật Tử còn nhỏ ưa táy máy thì Đức Phật có
quở gọi là Sóc Quỷ này, mới gọi là Quỷ Tiên.
Nhưng Phật nói đâu có đó nghĩa là chưa đáng
bực làm Phật nhưng cũng có lẽ được chức hàm Phật
mà thôi, còn hiện nay là quỷ của Phật.
Chữ Ma
Đời Đạo Song Tu | 83
chữ Quỷ một bên.
là chữ Ma. Khi người đã thác, tội lỗi nhiều
thành ma.
Chữ Ma chấm đầu ngang qua gọi là âm phủ
đương lưỡng nghi. Âm dương lưỡng nghi là một thứ
huyền diệu thấp thỏi nơi ủ rũ, cây cỏ um tùm, bóng
tối cùng một ít bóng sáng. Nơi chỗ ấy là nhà, hay ở
để làm Ma.
Dấu Phết cũng được mang âm dương của trời
của đất bực thấp thỏi để chưởng bóng ảnh của nó.
Chữ Lâm là rừng bụi cây cỏ, Ma sẽ nương dựa
vào ăn những món ăn hằng ngày những món ăn có
xác. Xác của vật thực và Đất, khí Đất là dưỡng khí
bồi bổ cho Ma cùng các món như là dế, cào cào,
trùng là vật ngon nhất của ma. Bởi thế khi ma bắt
dấu người trong lùm bụi rồi lấy đất, cùng trùng cho
người ăn, trong người thế gian gọi là đất trùng nhét
vào họng. Nhưng Ma có được một ngày ân xá, đi lên
chỗ nào kêu gọi thì trong một năm nó được ăn một
lần nào gà vịt heo của thế gian làm cúng cùng các đồ
xào là quý hóa. Ngày ấy là ngày vui vẻ của Ma.
Tại làm sao người ta được thắp ba cây nhang? Ba
cây nhang ấy được gọi là ba đóm lửa tam muội, hỏa
84 | Đỗ Thuần Hậu
để tiếp tế cho linh hồn có lửa và khói để chứng kiến
cho Ma được vào đấy dễ dàng hơn do nơi người cúng
quảy nguyện vái. Nguyện vái là kêu gọi mà thôi.
Những ngày giờ Ma được thong thả, được đi từ mặt
đất trở lên một thước sáu Ma được đi tự do, chư
Thánh chư Thần không chặn cản ngăn đón, để đi đến
chỗ cúng gọi Ma về ăn uống. Còn các ngày khác
không được thong thả, cứ xung quanh theo xác chết
là mồ mả.
Còn chữ Quỷ một bên, nếu Ma nào thức tỉnh
được chết hiền từ không phá rối và hiểu tội lỗi tù đày
của nó, khi bản thể nó đã thác. Nó ăn năn tu hành
thì nó được làm một chức Quỷ. Nếu làm con Ma
không tu hành ưa phá quấy hơn trên, khi đúng hạn
tù đày sẽ biến thành trùng dế.
Chữ Tà
Như thế nào là chữ Tà?
là chữ Nha, gọi là nha bộ. Nó ở bên ngoài ám
sắc, vô bản thể người để nói quá khứ vị lai cùng
xưng Thần Thánh làm cho con người lầm lạc, rồi con
người cảm ứng ấy biến thành sự thật. Tà là một
Đời Đạo Song Tu | 85
giống Quỷ lanh lợi khôn ngoan hơn để hại người
cùng kiếm vật chất để ăn, ưa bắt người cúng quảy.
là phụ thuộc ưa nói nịnh bợ giả dối tự xưng tự
lịnh. Gọi là Tà chớ thật sự cũng là Quỷ. Bởi thế Tà ưa
nhập vào xác con người, sửa bản thể cùng cơ quan
con người đem qua cho nó để nó muốn nói sao thì
bản thể của người cũng theo vậy. Việc làm và lời nói
y nhau là do nơi linh hồn thành quỷ ở thế gian. Tà
được đi từ mặt đất tới lên không khí hai trượng ba
tức ba thước rưỡi tây, luồng thiên xích không thể đo
được, chỉ những người tu hành có mắt để hiểu thôi.
86 | Đỗ Thuần Hậu
Thiết Thật Đời Đạo Song Tu
Thưa các bạn,
Khi tôi sanh trong đời, tôi vẫn như các bạn. Là
người ở trần gian, chín tuổi mồ côi mẹ, vẫn còn cha.
Cha tôi là Đỗ Hạo Cừu sống được 73 tuổi (đã qua
đời). Lúc ấy tôi không chị em, chỉ một mình tôi tại
thế đây, chịu những chua cay chát đắng mặn nồng,
lặn ngụp trong bể khổ không thể kể. Bởi thế tôi học
nghề như sau: thầy thuốc Nam, thầy bùa, thầy coi
quẻ, thợ mã, thợ nhuộm, thợ sơn cùng nấu nướng
mọi việc để lo sinh sống. Trong đời lúc nghèo hèn ấy
tôi dạy học trò chữ Việt, chữ Pháp để lấy tiền cưới vợ
lập gia đình. Lúc ấy cha thì có mẹ ghẻ, lại già, nên
không kể đến bởi thế tôi tự lập nhưng vẫn nương
quyền cha, đủ hiếu nghĩa. Khi tôi lập gia đình cũng
vẫn nương quyền cha trong hai, ba năm thì bà mẹ
ghẻ đày đọa cực khổ và chính tôi được biết những sự
chua cay ngụp lặn trong bể khổ không thể kể. Lúc tôi
nằm nghỉ cùng lo lường để nuôi gia đình một vợ và
tám đứa con thì cực khổ ấy cứ ràng buộc thêm vì
phải chống chọi trong thế gian này vì thấy mạnh
hiếp yếu. Khi tôi làm được đủ ăn hằng ngày thì một
ngày kia chán đời sang đạo.
Lúc tôi đi cầu đạo vào thâm sơn cùng cốc cũng có
nhiều người tu luyện phép mầu cũng được thấy,
Đời Đạo Song Tu | 87
nhưng giai đoạn ấy tôi không được xu hướng do nơi
Tiên Sư A Bí A Kìa là một người Địa Tiên tôi vẫn biết
— tôi được trở về. Đi tầm đạo Phật, đi đến các chùa
miếu trong thế gian thì chùa có ông thầy bà vải phần
nhiều là tánh trần cũng như người thế gian không
tu, nhưng khác hơn là dầu mặc áo nâu sòng tụng
kinh gõ mõ truyền bá vậy thôi. Còn miếu thì thấy
nhiều người làm cốt hay xác ông này bà kia nói
chuyện ảo ảnh, nhưng người ấy là người trần, chẳng
phải tiên. Thật là trần tục! Vì lúc ấy tôi nghiên cứu
thấy nhiều vị tu hành trên đó được sung sướng, ăn
no ngủ kỹ, nào là chùa ngói phương trượng người ta
họp lại kính dâng phẩm vật cúng bái cho Phật cùng
người, như người ở thế gian không thường những
chi, trong sự tụng thì gõ mõ tụng kinh ca tụng hành
thì không thấy thuyết ra những điều nào khác. Khi
họ thuyết kinh thì chỉ nói tích xưa cũ kỹ chớ không
chỉ sự tu hành cho rõ rệt. Còn xét qua về phần pháp
môn thì biểu cúng quẩy chiêm ngưỡng, thì mấy điều
ấy có thể tôi làm cũng được.
Bởi thế tôi phải tầm chơn sư tới sáu, bảy năm mới
gặp được Đức Cao Minh Thiền Sư biếu 16 pháp môn
rút theo sách xưa nào là Tánh Mạng Khuê Chỉ của
chư Tiên ở bên Tàu làm sách ấy. Còn sách Thanh
Tịnh Kinh của Đức Khổng Tử bày ra cũng cứ nghĩa
suông mà khảo cứu. Tôi cũng cứ lấy làm tin nhưng
mà tôi phải vào đấy chịu quy y đài thọ các điều.
Trong lúc ấy có nhiều môn đệ của ông nhưng chỉ
88 | Đỗ Thuần Hậu
một hai người cùng tôi làm được theo ông, biết được
linh hồn sáng suốt theo những bạn tu hành nói lại,
còn chính tôi thấy sự tu hành có câu: "Cư trần nhiễm
trần" thì sự tham lam hăm hở các bạn tu với tôi vẫn
còn, tuy tôi cũng có mà ít hơn. Tôi chán nản nửa
chừng ấy, tôi tách ra để làm ăn ngay thẳng bảo trợ
gia đình và tự nghiên cứu kinh sách nhà Phật từ
ngàn xưa để lại. Từ đấy sắp sau 4, 5 năm tôi đã được
55 tuổi khởi đầu tu hành.
Và trí ý của tôi hằng ngày nghiên cứu cho rõ rệt,
muốn đi đến cảnh Tiên nhà Phật, tự tu tự luyện và
nghiên cứu không khí bao la thì tôi được biết trong
pháp môn xuất hồn có bốn điểm mà thôi, còn 12
môn khác phụ thuộc nhưng cũng có kiếm thêm
nhiều bí mật. Nhờ sự xuất hồn trong ý chí sáng suốt
ấy. Khi tôi khởi đầu để nghiên cứu và quan sát tôi
mới có thể hiểu các bạn làm pháp môn như tôi, coi
sự tu hành có ý như vậy không.
Trong một năm vừa qua, từ năm Canh Tý 1960
đến năm Tân Sửu đây, ngày Rằm tháng Giêng tôi xin
mời các bạn để hội họp, lấy sự thành thật việc tu
hành trong một năm, tánh chất bản thể ra thế nào,
cùng linh hồn điện quang tịnh độ chất lượng ra sao
để hiểu biết. Như các bạn cùng chung với tôi, tôi
cũng làm một bản kiểm thảo này để phần năm tới là
năm 1962 Nhâm Dần coi sự tu hành thúc đẩy tân
tiến thế nào. Trong sự tu hành tôi được cho các bạn
biết hèn hạ xấu hèn hung dữ, tính tình chúng ta
Đời Đạo Song Tu | 89
không nên che đậy để chỉ rõ nhờ sự tu hành nó phát
triển thế nào mới biết được gọi là thiết thật. Nhưng
trong đời người ta thấy sự hèn hạ, xấu hèn người ta
che lấp, còn sự vinh sang tốt lành người bêu diễn
lên, nói lên quá thế con người thì sự tu ấy càng ngày
càng mờ ám. Từ tôi biểu các bạn đồng thời tu luyện
đạo pháp lý này tôi được thâu lượm bao nhiêu xin kể
rõ các mục. Còn những điều xấu của tôi cũng chỉ rõ
sự hèn hạ. Sự tốt vinh quang về phần tu tôi được
lượm lặt những điều sáng suốt của phép tiên nhà
Phật đưa ra minh triết cũng xin kể rõ đặng để các
bạn sưu tầm thêm.
Ngày hôm nay giờ này, phút này tôi được tiếp các
bạn, kiểm thảo về sự tu hành vui vẻ hân hoan hoan
hỉ, có phần long trọng hơn.
Xin chào các bạn để kết tình thân ái.
Cha tôi là Đỗ Hạo Cừu làm Phó Tổng tại An Thới,
Sa Đéc, đã qua đời. Còn tôi là Đỗ Thuần Hậu 78 tuổi
cũng đồng ở xứ quê hương của cha tôi. Vì bị thời
cuộc tôi phải ở:
Quận III — Đa Kao
91 Phan Thanh Giản
lập bản Thiết Thật này.
90 | Đỗ Thuần Hậu
SẤM TU HÀNH
(của cụ Đỗ Thuần Hậu lúc 80 tuổi)
Tám mươi Hậu đã sấm ra
Thích Ca truyền đạo Di Đà truyền khoa
Từ đây giác ngộ phân qua
Các bạn phải nhớ khoa này Vô Vi
Từ đây Pháp Lý gắng ghi
Pháp môn rành rẽ Di Đà truyền khoa
Môn nào môn nấy có khoa
Bạn đừng lầm tưởng chung khoa lạc đường
Khoa Học Huyền Bí chủ trương
Học thời ấn chứng mới tường giả chơn
Luyện đạo suy xét thiệt hơn
Trí tâm tu luyện như đờn lên dây
Học đạo đừng thói tà tây
Nghe đâu đi đó không thầy không ta
Rồi đây xác thác ra ma
Chuyên môn thi nói bỏ qua đạo mầu
Đạo nào môn nấy cơ cầu
Học thời ráng giữ chớ sầu chớ lo
Phật đâu mà có hộ phò
Bạn đừng nghĩ quấy cu cò sao nên
Tu hành gắng chí cho bền
Nền đạo vững chắc mới nên đạo lành
Thấy cá tưởng cá là canh
Chánh tâm cố ý tu hành mới nên
Đời Đạo Song Tu | 91
Di Đà thọ kí ghi tên
Trên đầu lủng khuyết Phật cho tam liều
Luyện đạo cho kĩ đừng kiêu
Anh em bậu bạn phải chìu phải do
Trăm người ngàn tánh so đo
Kẻ hiền người nóng dạy cho nên hiền
Bạn thì dạy bạn mới thiêng
Thích Ca dạy bảo chiếu liền bên con
Lời nói như nét vàng son
Con nên ghi gắng cho tròn công phu
Trong đạo kẻ sáng người ngu
Tiền căn nhơn quả ráng tu xóa liền
Thích Ca bí yếu huyền thiêng
Hễ tu thì được phước duyên cho liền
Siêng năng cần mẫn ban liền
Thích Ca hoằng hóa tuyên truyền con ơi
Lời đây dạy bảo đã rồi
Di Đà thọ kí khoa nầy công phu
Học thời để ý đừng ngu
Dạy đâu nhớ đó công phu cho bền
Sáu chữ huyền bí thông lên
Tầm đường nhện bủa mới nên đạo mầu
Nguồn đạo chỉ rõ cao sâu
Thâu được huyền bí ni châu phát liền
Di Đà là phép huyền thiêng
Công phu luyện đạo bệnh hung hóa hiền
Di Đà sáu chữ thầy truyền
Công phu rành rẽ bệnh liền hết ngay
92 | Đỗ Thuần Hậu
Bệnh trong cho đến bệnh ngoài
Điển quang thầy trị có tài noi theo
Con tu đừng sợ chữ nghèo
Trong lòng sáng suốt khéo khôn mới tài
Việc làm khôn khéo là may
Tiền bạc phát triển do ngay ý mình
Đừng làm hành khất đi xin
Không tham, không muốn, không xin mới mầu
Thầy đây ghét kẻ cơ cầu
Ganh đua xúi dục chẳng ban phép mầu
Ngày đêm thầy ở trên đầu
Phép mầu thầy dạy cơ cầu lắm con
Vàng son chiếu điển cho con
Từ giờ khắc phút cho tròn công phu
Các con chẳng thấy là ngu
Khổ công tu luyện công phu khỏe liền
Sáu chữ ba đấng thầy truyền
Soi Hồn phép một để truyền cho con
Nam Mô phải giữ cho tròn
Điển lành phát triển cho con tia vàng
Tia vàng chiếu điển hào quang
Công phu cố gắng bảo toàn thân con
Luyện đạo phải giữ cho tròn
Chịu khó chịu nhọc thân con chẳng gầy
Khoẻ khoắn mập mạp thuở nầy
Thầy thương thầy dạy khỏi gầy khỏi lo
Soi Hồn có bạn chỉ cho
Công phu ráng học thầy cho bảng vàng
Đời Đạo Song Tu | 93
Di Đà thọ kí rõ ràng
Trên đầu lủng lỗ thế gì con than
Đừng làm giả dối mơ màng
Công phu luyện đạo rõ ràng hỡi con
Không dùi không đốt cũng tròn
Phép Phật thần bí không mòn không phai
Thầy thương thầy mới chỉ ngay
Phép Phật nhờ điển mới tài đó con
Soi Hồn phép Phật bớ con
Công phu luyện đạo đừng lầm đừng sai
Mười hai giờ Tí thông khai
Xếp bằng ngồi lại chấp tay định thần
An trí, an tánh, an thần
Chẳng lo, chẳng nghĩ, chẳng cần việc chi
Trí ý an tĩnh vô tư
Xả tay để xuống bế mi mới mầu
Thế gian mê tín cơ cầu
Nhắm mắt tư tưởng ý hầu Phật Tiên
Dơ tay cùi chỏ ngang vai
Ngón cái chận bít lỗ tai mới mầu
Làm cho tinh điển đâu đâu
Thông cảm bộ đầu mới rõ thông tri
Điển chạy bát chánh nhớ ghi
Soi cả các nẻo thông ngay xoáy đầu
Tay trỏ chận huyệt bộ đầu
Chận ngay mí mắt điển liền tập trung
Lư hương là mạch điển chung
Trí ý phát triển tiếp liền thiên không
94 | Đỗ Thuần Hậu
Nhức đầu cũng hết cũng thông
Khi trời vận tiếp thiên không mới mầu
Huyệt này thông cảm đâu đâu
Báo tin chư Phật cơ cầu đó con
Điển lành xuất hiện vàng son
Hồn Vía mới rõ cứu tinh mới tròn
Trái tim hé hở cho con
Hồn Vía mới biết chẳng còn bị giam
Khớp xương mí mắt hình tròn
Ngón giữa ta chận chẳng còn hồ nghi
Kéo chằn nhè nhẹ một khi
Tim nầy tiếp điển chạy mi chơn mày
Điển này chớp nhoáng hoài hoài
Không mắt mà thấy mới tài đó con
Lỗ ghèn thông cảm chẳng còn
Mắt mờ trở sáng chẳng mòn con ngươi
Từ đây tia sáng bằng mười
Mặt mày tươi tắn con người vui tươi
Ngậm miệng cuốn lưỡi khác người
Nướu răng kế cận chớ lười gắng ghi
Từ đây an tĩnh nhu mì
Môn đệ của Phật tu mi mới mầu
Phép Phật biến hóa cơ cầu
Già thì biến trẻ chẳng sầu đó con
Miệng cười duyên dáng môi son
Công phu cố gắng sống lâu hơn người
Bạc chín khó đổi vàng mười
Trường sanh trở lại con người thắm tươi
Đời Đạo Song Tu | 95
Luyện đạo công phu chớ lười
Làm cho sức khoẻ con người an khương
Điển quang soi thấu khớp xương
Trí tuệ khai hấn thông đường thiên cơ
Luyện đạo an tĩnh đừng mơ
Mắt mờ trở sáng thiên cơ mới mầu
Trí ý gom lại bộ đầu
Tâm tánh đều biết cao sâu tâm người
Dầu cho già trẻ mấy mươi
Trí đạo hiểu biết bằng mười thế gian
Gánh vàng đem đổi chẳng màng
Phép Phật thâu được hơn vàng thế gian
Soi Hồn đã hết lại sang
Pháp Luân Thường Chuyển mở màn cho con
Di Đà khuyên nhắc các con
Cha Mẹ giao cấu sanh con thuở đầu
Hình dáng trần cấu cơ cầu
Năm tạng ngủ ỉa ăn sâu cuộc trần
Nuôi thân khôn lớn cõi trần
Làm việc nô lệ bao lần đó con
Thầy nói ghi tạc vàng son
Ngũ tạng cởi mở chẳng còn như xưa
Chẳng tham chẳng muốn thừa ưa
Ngũ tạng phân tách nào lừa thế gian
Từ đây tánh ý mở màng
Điển quang ngũ tạng chạy sang bộ đầu
Mắt thì ngũ uẩn cơ cầu
Điển lành đến đó để hầu việc nay
96 | Đỗ Thuần Hậu
Bắt đầu theo Phật hằng ngày
Ngũ uẩn làm chủ dẫn ngay Thiên Đàng
Điển quang tập hợp mơ màng
Cửu khiếu hợp nhứt tia vàng phát ra
Bắt ấn Tam Muội cà sa
Quán Âm Bồ Tát cho ta phép màu
Ngồi ngay xương sống thẳng đầu
Cánh tay khép lại khít sườn đó con
Xương sống vũ trụ ngay boong
Cắn răng co lưỡi chẳng còn lo chi
Hít hơi đầy bụng một khi
Nghẹt hơi lại thở việc chi chớ sờn
Luyện đạo cố gắng thì hơn
Chết sống đâu sợ đâu sờn trí ta
Theo Phật nào phải theo ma
Con làm như vậy thì tà phải dang
Từ đây đi thẳng một đàng
Phật là căn bản rõ ràng đó con
Hồn Vía phải giữ cho tròn
Vốn KHÔNG căn bản nào mòn nào sai
Phật với con cũng một loài
Dương thế cõi tạm tù đày đó con
Làm sao cội phúc chớ mòn
Con về chốn cũ cho tròn nghĩa nhơn
Vốn KHÔNG là sợi dây đờn
Đi ngay nào dạy đâu sờn đâu sai
Tu thời chẳng sợ một ai
Tà ma quỷ quái chạy ngay không còn
Đời Đạo Song Tu | 97
Bệnh trần con luyến đó con
Phiền não sái quấy lại còn tham sân
Sao sao con biết đạo bần
Đủ ăn nuôi sống ân cần đó con
Bệnh trần tai hại hao mòn
Tà ma khuấy rối bệnh thì hết ngay
Nhức mình biếng nhác phô bày
Công phu luyện đạo chẳng còn mê say
Dương trần chẳng khỏi một ai
Phiền não sái quấy hoài hoài đó con
Tu thì hết bệnh dương trần
Sống thì lên phẩm chẳng còn u mê
Nam thì hết bịnh đa thê
Nữ thì hết bịnh sa mê cõi trần
Ngày đêm con phải ân cần
Khỏi lo phiền não là phần vui tươi
Phật dạy vừa nói vừa cười
Cứu người dương thế bằng mười thuốc thang
Dắt con khỏi chốn dương gian
Minh Triết Thiên Đàng gọi lại đó con
Diêu Trì Kim Mẫu lòng son
Hằng ngày cứu vớt hồn con thiên đàng
Phật nay mới bảo lời tràng
Càn khôn định đoạt mở màn đó con
Đà Phật định đoạt vàng son
Hồn về xứ Phật chẳng còn si mê
Sao sao cũng giữ một bề
Pháp Lý thâu đặng dựa kề Phật Tiên
98 | Đỗ Thuần Hậu
Định thần thẳng rẳng tịnh yên
Gọi là Thiền Định phép tiên rọi truyền
Văn Phật phổ biến chơn tiên
Tu thời nẻo chánh khỏi phiền đó con
Cuốn lưỡi ngậm miệng cho tròn
Cắn răng nhắm mắt nào còn si mê
Gọi con cố gắng trở về
Cảnh Tiên nhà Phật dựa kề bồng lai
Hào quang chớp nhoáng hoài hoài
Có công luyện đạo đi ngay Thiên Đàng
Từ nay trực chỉ một đàng
Dắt về xứ Phật vốn vàng cho con
Nghĩa nhơn phải giữ cho tròn
Phật Tiên Thần Thánh nào còn chấp mê
Con mau sắp trở lộn về
Trung Thiên thấy Phật dựa kề bên con
Đảnh lễ lạy Phật cho tròn
Quy y theo Phật nào còn làm ma
Từ đây con được ta bà
Thiên cung dạo khắp giang hà con qua
Bỉ Ngạn tại đấy con à
Hà sa ban bố thật là Pháp Luân
Từ đây thiên biến vạn hình
Ngày đêm đảnh lễ Phật Tiên trí lành
Văn Phật là gọi đàn anh
Võ Phật phụ thuộc đấu tranh làm gì
Tiên Tiên Phật Phật nhiều kì
Hai phái văn võ con thì biết chưa
Đời Đạo Song Tu | 99
Luyện đạo con tỉnh hơn xưa
Ai xúi điều quấy con chừa nghe con
Lời Phật như nét vàng son
Pháp Lý cứu bịnh chẳng còn như xưa
Pháp Lý dạy kĩ để ngừa
Dạy con theo kịp mới vừa văn minh
Nhơn đạo là phép trá hình
Vật chất còn vậy tánh tình phải minh
Từ đây con khỏi lộ trình
Pháp Lý đạo Phật của mình đó con
Tu thì linh nghiệm vàng son
Làm đâu biết đó chẳng còn hồ nghi
Diệu huyền ban xuống một khi
Minh triết tại thế đương thì phát minh
Khai môn mới mở pháp đình
Thượng Đế Bồ Tát quang minh mới màu
Huyền Thiên Thượng Đế cơ cầu
Thượng ngươn mới mở bắt đầu đó con.
100 | Đỗ Thuần Hậu
Phép Xuất Hồn | 101
Phép Xuất Hồn
102 | Đỗ Thuần Hậu
Phép Xuất Hồn | 103
Lời Giới Thiệu
Quyển sách này gồm có hai phần:
1. Phần đầu tường thuật “PHÉP XUẤT HỒN“
2. Phần sau là “MƠ DUYÊN QUÁI MỘNG“
Những tài liệu này do cụ Đỗ Thuần Hậu (mà
người quen biết thường gọi là "ông Tư") sáng tác ra
với mục đích giúp cho những người có học về "Pháp
Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Phật" được hiểu về
đường công phu tu luyện.
Theo "Pháp Lý Vô Vi" mà cụ Đỗ Thuần Hậu đã
đạt được, thì con người là một phần thiêng liêng bị
sa đọa và bị giam hãm nơi trần thế. Con người ấy
gồm có hai phần: Dương và Âm.
Phần "Dương" là "Hồn" bị giam hãm nơi con tim,
phần "Âm" là "Vía" bị giam hãm nơi lỗ rún. Vì bị
giam hãm như vậy, nên Hồn và Vía đều cách xa
Thiên Môn, và bị nhiễm trần mê muội, ở trong một
xác thân chỉ biết việc trần (loạn động) mà phải chịu
luân hồi mãi mãi.
104 | Đỗ Thuần Hậu
Pháp lý Vô Vi dạy cho con người biết phép tu để
thanh lọc cho Hồn và Vía thoát khỏi nơi giam hãm,
phá "Huyền Quang Khiếu" để nhập Thiên Môn trở về
Thiên Đàng là nơi quê xưa chốn cũ.
Trong phần đầu, cụ Đỗ Thuần Hậu thuật lại
những giai đoạn công phu của cụ và những điều
thực nghiệm của cụ trong lúc xuất hồn qua thế giới
vô hình để học đạo.
Theo lời của cụ, chỉ khi nào xuất hồn ra khỏi bản
thể, nhập vào cõi vô vi mới học được đạo của Tiên
Phật, chớ ở cõi trần loạn động và ô trược này làm gì
học được đạo thanh tịnh vô vi của Đức Phật. Hồn là
một luồng điển chủ chốt trong bản thể, khi được
thanh lọc và tập trung đúng mức, thì sẽ khai phá nổi
"Huyền Quang Khiếu" để vượt ra khỏi ngục trần thế,
gọi là giải thoát. Người ta chỉ có thể giải thoát được
kiếp trần khi học và hành đúng "Chánh Pháp", chớ
xem kinh, đọc sách, đi chùa, làm phước, trì trai, giữ
giới, cầu nguyện, thờ cúng, đến ngàn muôn kiếp
cũng không thể nào giải thoát được.
Trong phần sau, cụ Đỗ Thuần Hậu dùng một lối
văn tiểu thuyết, nhưng kỳ thật là để nói rõ sự huyền
bí trong việc tu hành. Lúc người hành giả công phu
thanh lọc đúng mức, thì "Hồn" được nhẹ nhàng
hướng thượng và xuất ra khỏi bản thể. Lúc "Hồn"
xuất ra khỏi bản thể đi học đạo ở cõi Phật, thì "Vía"
cũng được nhẹ nhàng xuất ra đi học đạo ở cõi Tiên.
Phép Xuất Hồn | 105
Trong câu chuyện "MƠ DUYÊN QUÁI MỘNG", cụ
Đỗ Thuần Hậu thuật lại lúc "Hồn và Vía" gặp nhau
khắn khít tiền duyên, hai đàng trìu mến nhau trên
đường công phu tu luyện. Thật ra là lương duyên
tiền định giữa "Tiên Đồng" và "Ngọc Nữ" là cặp vợ
chồng thiêng liêng mà người trần thế thường cho là
sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng
quách là vậy.
Hồn là Chủ Nhân Ông, thuộc về phần Dương, làm
chủ bản thể, gọi là "Tâm". Vía là Chủ Nhân Bà, thuộc
về phần Âm, phục dịch cho Hồn giữ gìn bản thể,
chịu sự sai khiến của Hồn gọi là "Tánh". Cho nên
người ta thường nói: Tâm Hồn, Tánh Vía.
Hễ Tâm thanh tịnh thì Tánh lộ bày và sáng suốt.
Hễ Tâm loạn động thì Tánh bị che lấp và hôn mê.
Trong "Pháp Bửu Đàn Kinh" Đức Lục Tổ Huệ
Năng thọ pháp với Đức Ngũ Tổ Huỳnh Mai cũng tu
luyện cho đến kiến "Tánh" thành Phật.
Kiến Tánh ở đây có nghĩa là cái Tâm thấy được
cái Tánh, hay là cái Hồn thấy được cái Vía, tất cả đều
không qua cái Âm Dương của Trời Phật: "Nhứt Âm
nhứt Dương chi vi Đạo".
Cũng theo lời cụ Đỗ Thuần Hậu, những người tu
luyện trong giai đoạn đầu, được thanh tịnh phần nào
nên Hồn được xuất ra, và nếu cứ tiếp tục thanh lọc
mãi thì Hồn được lên cao, Vía được nhẹ nhàng, đến
106 | Đỗ Thuần Hậu
chừng thanh lọc cho đến tột thanh tột tịnh rồi thì
Hồn và Vía hiệp lại làm một, ở cõi Phật.
Xin chư quý vị, nếu có học về "Pháp Lý Vô Vi" thì
nên xem đây là một cuộc mở đường dẫn lối vô cùng
quý báu mà cụ Đỗ Thuần Hậu đã dày công khó nhọc
nghiên cứu, thực hành, để lại cho chúng ta.
Đối với quý vị chưa học về Pháp Lý Vô Vi, xin tùy
nghi nghiên cứu để suy tầm Đạo Pháp.
SàiGòn, ngày 5 tháng 5 năm Tân Hợi (1971)
Cư sĩ Nguyễn Xuân Liêm
thành tâm cẩn bút.
Phép Xuất Hồn | 107
Lời Tường Thuật Về Sự Xuất Hồn
của Tổ Sư Đỗ Thuần Hậu
Sau khi luyện đạo được sáu tháng đầu, lúc nhắm mắt
công phu, tôi được thấy tia sáng một vài lần, có vành
chớp nhoáng trong tròng đen của con mắt, xẹt qua
xẹt lại; tôi để ý nhìn giống như mặt trăng lưỡi liềm.
Tháng thứ 7:
Ban ngày tôi cũng thấy mặt trăng lưỡi liềm khi tôi để
ý, lúc ban đêm thì rõ rệt hơn và được chiếu hiện
nhiều lần.
Tháng thứ 10:
Tôi thấy ngay trên sống mũi, giữa hai chân mày có
hỏa luân xa. Ý tôi thấy một cục lửa từ trong xẹt ra,
ban đầu bằng đóm lửa nhang và phát hiện ra tròn
lớn bằng trứng cút. Trong đóm lửa ấy đỏ như than
cháy, thêm một vòng vàng và bao xung quanh màu
xanh sáng như mặt trăng mới mọc, phất phơ qua lại
rồi tan biến mất. Ý tôi tiếp tục ngó ngay chỗ ấy
không lâu, hóa trở lại, lần này phát triển lớn hơn
bằng trứng gà và sáng chói hơn.
108 | Đỗ Thuần Hậu
Tháng thứ 12:
Tôi cũng thấy y như trên rồi biến mất, lại hóa một
lần sáng như đèn pile, rọi xa ước chừng 100 thước.
Tôi thấy trong mùng có nhiều đường chỉ rõ rệt.
Tháng thứ 13:
Lằn sáng ấy tỏ hơn. Tôi được thấy đường sá cây cối,
nhà cửa, và một tòa nhà nguy nga lộng lẫy trong đó
có trưng bày bàn ghế và hàng vải bố ngũ sắc. Có một
vài hình bóng qua lại.
Tháng thứ 14:
Càng thấy càng xa.
Tháng thứ 15:
Ý tôi được gần cảnh ấy, thấy càng rõ rệt hơn, nhưng
chẳng thấy người.
Tháng thứ 16:
Tôi nhớ đến Sư tôi ở Động Kim Quang, núi Ông Tô ở
Châu Đốc. Trong lúc công phu tôi được thấy ông Sư
tôi, nhưng vừa thấy thì có một bàn tay lớn che án
ông. Trong một tháng Sư tôi xuống gặp, tôi thuật lại
và hỏi về bàn tay ấy? Sư tôi cho biết bàn tay ấy là
của Sơn Thần Thổ Địa.
Tháng thứ 18:
Phép Xuất Hồn | 109
Tôi xuất một bóng tròn độ năm phân đi trên cảnh
trời, thấy cảnh vật nguy nga, nhưng không có người,
ý bước lên từ chòm mây.
Tháng thứ 19:
Khi tôi công phu, ý định lên gặp Phật Tiên, mong
được sự chỉ giáo về đạo, nhưng ham cảnh vui đẹp, đi
chơi quên lửng không gặp được Phật Tiên, vì cảnh
Thiên Đàng đẹp hơn thế gian, có những đặc điểm
như đường sá hình như tráng ciment trắng, có nhiều
đốm nho nhỏ chói rọi. Trên lề đường trồng cây
dương và cây liễu yếu, bao bồn trật tự. Hai bên hàng
ba có trồng cây tía tô mọc dày như gấm. Tôi cũng để
ý bước lên trên ấy đi rất êm. Đi một khúc xa tôi thấy
một con sông, dựa bên sông, có một hòn núi, có một
con đường vạch sẵn. Tôi đi theo lên đến chỗ ấy, có
một bàn thạch. Tôi đến bàn thạch ngồi ngắm cảnh
bao la tươi đẹp, màu trời xanh biếc, phía sau núi có
một cây cầu bắc ngang sông, có lan can cầu gắn đèn
pha hai bên, rọi theo mé đường. Tôi đi theo mé
đường qua cầu, phải đi một khúc đường xa, đến đó
bóng tôi đã mệt và tan mất, tôi tạm ngưng. Lúc ấy
bản thể tôi tỉnh dậy.
Cách 7 ngày sau, tôi cũng đi đến đó, đi thêm một
khúc đường, thì ý tôi thấy một hình bóng không khác
gì bản thể tôi. Qua 7 ngày sau nữa, tôi được qua một
cảnh khác, tôi thấy một đám quỷ xương khô qua cầu
110 | Đỗ Thuần Hậu
đuổi tôi trở lại, nhưng tôi cứ việc đi, ý không sợ sệt.
Tôi thấy một số bà phước, ăn mặc như dưới thế gian.
Tiến tới một khúc đường, tôi thấy một người to lớn
đang đi tới trước mặt tôi, xem mặt mày hung tợn, có
một vành tròn màu xanh lá cây giữa trán và hai bên
gò má, mặc áo rộng màu xanh dương, lưng mang
ngọc đáy, chân đi hia, tay cầm một sợi dây trong
màu café, bay mùi tanh hôi, có ý muốn đánh lộn với
tôi. Mặt tôi ngó ngay người ấy, lưỡi tôi họa phù "ngũ
lôi" phun ra thấy một lằn sáng chiếu ngay, thì hình
thù của y bị tan rã, chỉ còn lại quần áo. Phù kể trên
tôi đã học sẵn kêu là "Cửu Thiên Lỗ Ban Sát Thần
Phù", có công dụng trừ ma ếm quỷ. Sau trận đánh
đó, trụ hình về bản thân, tôi bị nạn, đau nặng sáu
tháng. Sư tôi ở núi Ông Tô xuống cho thuốc, nhưng
không chữa được, chết đi sống lại bốn lần, sau phải
nhờ bác sĩ Thạch cứu chữa, dùng điển rọi cuống
họng trị mới hết bệnh.
Tôi về nhà dưỡng bệnh thêm bốn tháng nữa,
bệnh được an lành, tạm gác công phu thêm 10 tháng
nữa để dưỡng bệnh, cộng tất cả vừa tu vừa bệnh gần
30 tháng.
Sau thời kỳ dưỡng bệnh, tôi bắt đầu công phu trở
lại. Trong một tháng thì tôi cũng được công phu như
cũ. Khi xuất hồn đi, tôi cũng được thấy con đường
Phép Xuất Hồn | 111
vào núi cũ trước kia, cũng qua cầu, vừa đi vừa thấy
dọc theo mương lộ, phía bên tay trái, có năm chặng
đều có sen ngũ sắc mọc. Tôi bẻ mười bông sen, đi
thêm một khúc đường, ý tôi thấy mệt quá, tự nhiên
hình bóng tan rã, nhưng không bao lâu thì được
hườn nguyên, bông sen đã mất, tôi cũng bỏ qua. Tôi
tiến tới một lối đường nữa dừng ngắm cảnh, ý tôi
đang mặc một cái áo dài trắng tay rộng có kết hai lằn
chỉ vàng nơi ống tay. Tiếp tục đi tới, tôi thấy ông
Quan Công cưỡi ngựa, có người đẩy xe chở gươm
đầu hổ theo ngài. Ý tôi chào ngài, vẫn đi tới tôi thấy
năm bầy ngựa ngũ sắc, sắp hàng ngay thẳng, có một
con ngựa đứng vào hàng đầu, gắn yên giáp đầy đủ.
Khi tôi đến gần thấy ngựa bạch vui vẻ hình như chực
sẵn để tiếp tôi.
Lúc ấy tôi cũng vui vẻ leo lên mình ngựa, chạy
được một khúc rồi bay tung lên trên trời. Tôi được
thấy lâu đài tứ phía nguy nga ngoạn mục, thơi thới ở
trong lòng tôi. Khi ngựa bay đến một cây cầu phía
dưới có sông rạch, ngựa dừng chân. Tôi bước xuống
xem dưới vạt cầu, thấy có một nàng Tiên ra chào tôi
và tự xưng là A Hương Cô Nương, người phụ trách
cỡi rồng làm mưa gió. Cô nương có nhờ tôi cỡi con
rồng thay thế cô và giao cho tôi một cái bầu nhỏ
đựng nước và căn dặn rằng tôi được cỡi lên mình
rồng bay đi, sau khi hợp gió. Lúc con rồng quay đầu
lại ngó tôi, thì tôi phải đổ bầu nước ấy. Đúng theo lời
dạy tôi đã được cỡi rồng bay một vòng và thi hành y
112 | Đỗ Thuần Hậu
theo lời dạy, xong xuôi trở về chỗ cô Tiên ấy giao trả
con rồng và bầu nước. Lúc ấy cô A Hương tỏ ý cám
ơn tôi. Tôi để ý xem kỹ lại thì thấy dưới chân rồng có
đá ngũ sắc sáng chói. Tôi lên ngựa bay một vòng
quanh bầu trời thế giới, rồi trở về chỗ cũ, trở về bản
thân mưa vừa tạnh.
Từ đó trở đi, tôi được cỡi ngựa đi chơi ba tháng
khi tôi xuất hồn.
Tháng thứ 34:
Tôi cũng xuất hồn lên chỗ đám ngựa, nhưng
không thấy ngựa, thành thử bơ vơ không biết đi đâu
bây giờ, ngẩn ngơ dòm thấy có một con đường tẽ qua
phía tay mặt. Tôi đi một đỗi đến cửa tam quan, ý
định đi thêm nữa, lúc ấy trước mặt tôi có một người
đi đến. Tôi định hỏi thăm đường đi về đâu, ý vừa
định vừa suy nghĩ: có đường thì cứ đi, chớ hỏi chi
những khách qua đường. Lúc ấy người khách qua
khỏi lưng tôi. Tôi không để ý, khi dòm lại thấy hình
bóng được tỏ rõ hơn. Tôi tiếp tục đi tới mé sông, ước
mong sao được qua bờ bên kia, chực ngó xuống bến,
thấy có một chiếc tam bản, không chèo và bánh lái.
Tôi bước xuống ghe, ghe tự trôi và băng ngang giữa
sông. Tôi ngó lại không thấy người, tôi tưởng thầm,
có lẽ có ai điều khiển mà mình không thấy được. Tôi
chắp tay, ngước mắt lên trời tỏ ý cám ơn và nhờ Ơn
Trên dìu dắt cho tôi đến bờ sông bên kia, rồi tôi dòm
Phép Xuất Hồn | 113
tới mũi ghe thấy một con cá trừng lên, mặt có vành
khu ốc theo mang, con mắt tròn sáng, có bốn chân,
vi, đuôi và vẩy trắng, lội bọc theo ghe. Lúc đó tôi sợ
lắm, ghe cũng cứ trôi mà cá vẫn cứ theo. Khi đến
gần bờ thì cá vùng vẫy văng nước và lặn luôn. Lúc ấy
ghe cập bến, sát bên bực đá dài và lớn vuông vức,
ước chừng một mẫu đất. Bên sườn núi có hang sâu,
bên ngoài có cửa dòm lên trên thì thấy có một cái
nóc như một căn nhà để tiếp khách. Bên cạnh hang
có một hòn đá ve ra như một cái bàn. Có một ông lão
độ chừng 70 tuổi, ốm yếu tướng thong dong, ở trần
mặc quần đùi mặt vuông, lỗ mũi cao, trán cao,
miệng rộng, răng bạc và thưa.
Ông lão hỏi tôi: "Môn đệ đến đây có việc gì?"
Tôi đáp: "Mô Phật đến đây nhờ ông dạy tu."
Ông nói: "Cứ việc tiếp tục tu đi thì con sẽ thành
công."
Lúc ấy tôi đảnh lễ Đức Phật, trở về đường cũ, qua
khỏi núi, bước xuống chân núi thì có nhiều đám mây
từng thấp, từng cao. Tôi bước xuống đi từ cấp mây,
độ chừng vài trăm thước thì tôi dòm thấy nóc nhà
của tôi. Tôi mừng, may được trở về không lạc lối. Khi
ấy tôi bắt từ không trung đáp về bản thể. Lúc ấy tôi
mở mắt ra suy ngẫm, nhớ lúc đi và lúc trở về không
quên một tí nào. Từ đó, tôi tiếp tục tu trong hai
tháng. Ban đêm thì cũng cứ đi đảnh lễ Phật, được
Phật phán rằng:
114 | Đỗ Thuần Hậu
"Ta đây là Phật Sự để hộ môn đệ, từ rày về sau
khỏi đi ghe, cứ đi qua mặt nước."
Ban đêm thì công phu, ban ngày thì chữa bệnh
để cứu độ chúng sanh. Tôi cũng có làm bùa Lỗ Ban
để trị cho những bệnh nhân có chuyện khuất lấp về
tà ma. Trong lúc ấy lòng tôi vẫn hồ nghi, không biết
có phải thần thánh hay ma quỷ dìu dắt tôi. Tôi phải
tự tìm một cái thế nhắm mắt kêu thần linh, dắt chơn
linh tôi đến nhà người ấy để cho biết đầu đuôi địa
thế ra sao? Nếu bị tà ma khuấy rối thì thần linh ấy
phải cho tôi biết để tôi nói lại với người bệnh và chỉ
chỗ người bệnh ở xem có đúng không? Thì người
bệnh cho rằng đúng. Tôi vẫn còn hồ nghi, cho rằng
người bệnh muốn được hết bệnh, nói xuôi theo ý tôi.
Tôi đích thân đi theo bệnh nhân đến tận nơi xem thì
quả thật là đúng. Nhưng trong 10 lần, cũng có vài
lần sai chút ít.
Tôi xét lại cũng chưa vừa ý. Tôi vẫn công phu y
như trước, chừng một tháng nữa, và tiếp tục nghiên
cứu như trên. Cũng có khi người bệnh muốn biết
vong hồn ông bà cha mẹ khuất lấp ra sao? Tôi bảo
nói tên họ, rồi tôi xuất điển đi đến tận nhà người
bệnh kêu Thổ Địa Thần Kỳ lại để hỏi. Tôi thấy Thổ
Địa Thần Kỳ đến, người như mình, bịt khăn đen,
quần trắng, áo dài đen, mang cặp da đen chào tôi và
hỏi có chuyện chi?
Tôi cho hay có tên họ đó v.v... Nhưng có nhiều
người nam phụ, lão ấu cũng trùng tên họ. Khi tôi trở
Phép Xuất Hồn | 115
lại cho bệnh nhân biết rằng vong linh người ấy đã
già, tả mặt mày hình dung thì bệnh nhân cho là phải.
Nhưng tôi vẫn nghi ngờ, tự xuất điển đi một lần nữa,
và cũng kêu Thổ Địa Thần Kỳ, kêu ông già đó dắt tôi
tới chỗ ông ở, thì ông dắt tới một cái mả cũ. Tôi về
thuật lại và tả cảnh cho người bệnh nghe, có những
gì nơi mộ. Người bệnh nhìn nhận.
Cũng có nhiều người khác đem hoa quả đến
cúng, tôi cũng dùng điển dòm thấy và nói lại họ cúng
trái cây gì, và những trái cây ấy có vết tích, xấu tốt
làm sao, thì những người ấy cũng nhìn nhận.
Tôi tiếp tục công phu, ban đêm nương theo
đường đi cũ ngay đến chỗ khi trước. Trên đường lộ
phía bên tay trái có sen ngũ sắc. Tôi tự bẻ sen đảnh
lễ Phật. Lúc ấy Phật lấy cọng sen làm phép lành cho
tôi. Khi Ngài đưa cọng sen lên thì hình bóng tôi tan
rã. Trong chốc lát tôi được hườn hình lại như xưa.
Tôi đảnh lễ Phật tỏ phước đức của Ngài. Kế đó Ngài
đưa tay chỉ ngõ bảo tôi đi qua Quan Âm Bồ Tát, thì
tôi vừa đến triền núi, thấy có bực đá xây đường,
đồng thời có một tiên nữ mang một giỏ lam, có quai,
cô lượm trứng đá đủ màu sắc, chói rọi như ngọc. Tôi
chào và hỏi cô lượm trứng đá để làm chi?
Cô trả lời rằng:
"Quan Âm Bồ Tát dạy lượm, vì trứng đá này quý
báu vô biên. Mỗi thứ trứng đá chói rọi từ 1000 thước
sắp lên, ngũ sắc chẳng khác ngọc Pha ly."
116 | Đỗ Thuần Hậu
Lúc ấy, tôi chào cô rồi tiến lên đỉnh núi viếng
Quan Âm Bồ Tát. Cô tiên đồng đi, cô vô trước, tôi đi
sau. Đến trước mặt Quan Âm, tôi đảnh lễ và cầu xin
Đức Phật hộ độ cho tôi tu. Còn cô Tiên đứng hầu một
bên Quan Âm. Quan Âm Bồ Tát bảo tỳ nữ bưng ra
một đĩa trái táo sắc đỏ, ruột trong như đường phèn
dạy tôi phải ăn. Tôi nghe mùi táo ngọt, thơm nhẹ và
thâm trầm. Bỗng nhiên tôi ngó lại mình tôi đã tan rã,
nhưng ý tôi cũng biết được Quan Âm Bồ Tát cắt bộ
đồ lòng tôi, lấy bông sen và cọng sen thay thế. Tôi
cũng được biết máu mủ ra nhiều trong lúc đó, nhưng
không đau đớn. Sau cuộc giải phẫu thay đổi, tôi được
hườn hình lại, khỏe như thường. Lúc ấy tôi đảnh lễ
Đức Phật và xin về. Từ đó, tôi tiếp tục công phu,
cũng có nhiều khi đến đảnh lễ Phật Sự cùng Quan
Âm Bồ Tát.
Nhưng cũng có một điều lạ, là Phật Sự hóa ra
hình thể khác thường, mặt như quỷ, tay chân gồ ghề,
hình ốm da đen, rồi một lát biến trở lại như xưa.
Nhưng tôi cũng một lòng quy y đảnh lễ Phật. Một
tuần sau tôi công phu, được thấy Phật Sự hình dung
không thay đổi dị kỳ nữa. Một hôm tôi vừa đến, Phật
Sự bảo quỳ xuống ngay thẳng, lấy một cái nôm chụp
tôi lại. Tôi thấy hình bóng đã tan rã, trong nôm hiện
ra một con thỏ trắng, tan đi rồi hóa ra con gấu. Phật
dỡ nôm lên thì tôi được hườn hình như cũ. Phật lấy
bông sen để vào hai lỗ tai tôi, và bảo hãy nói đi, và
ngó xuống bản thể của con tập nó nói như thế. Kế đó
Phép Xuất Hồn | 117
Phật dạy qua đảnh lễ Quan Âm Bồ Tát. Đức Quan
Âm ban cho tôi một ly rượu mùi thơm ngọt.
Tu luyện đến đây ước chừng 5 năm, bị thời cuộc
lộn xộn, tôi bỏ dở không thể công phu nữa, vì phải lo
bảo hộ gia đình. Đến tháng 6 năm 1948, tôi được
đến Sài Gòn. Ban ngày thì lo làm ăn, ban đêm tiếp
tục công phu. Có một đêm công phu xuất hồn đảnh
lễ Phật Sự, nhưng Phật vắng mặt, tôi ngơ ngáo trở ra
ngoài đường thấy có con đường tẽ, tôi cứ đi theo dạo
cảnh cho biết. Vừa đến một khe nước có cầu ngang
dựa mé rạch có trồng cây ổi trái rất nhiều, tôi cũng
cứ việc bẻ ăn ngon lành, thấy ổi thơm ngọt khác
thường. Rồi tôi tiến tới, thấy một tòa lầu nguy nga,
tôi cũng vô đại để đảnh lễ Phật. Tôi ngó lên trên bàn
giữa nhà có một đĩa trái cây, lựu, lê, bình bát và
nhiều trái táo. Kế Đức Phật ra chào và hỏi môn đệ
đến đây có việc chi?
Tôi bạch, xin Phật dạy đạo, cho tôi quy y theo
Phật. Khi đảnh lễ rồi thì Phật lấy đĩa trái cây và bảo
muốn ăn nhiều ít tùy ý rồi cho tôi thêm một ly rượu
Bồ Đào uống cho được sức khỏe và minh mẫn thêm.
Tôi cũng vâng lời, uống vô nghe mùi như bông
nguyệt dạ hương, thơm nhẹ nhàng. Tôi đảnh lễ và
cám ơn Phật, xin trở về bản thể. Lúc ấy tôi ngó ra
ngoài thấy mẹ và dì tôi, tôi lấy làm ngạc nhiên. Tôi
hỏi thì mẹ tôi và dì tôi cho biết, nhờ Đức Phật Lê
Viên Thánh Mẫu hộ độ, mẹ và dì tôi mới được đến
quy y. Tôi sực nhớ lại và hỏi mẹ tôi hiện giờ phụ
118 | Đỗ Thuần Hậu
thân tôi ở đâu? Mẹ tôi trả lời liền: "Hiện còn đang ở
Âm Phủ tại Trung Kiên An Cảnh, bị giam lỏng không
thể đi được." Lúc ấy tôi xúc động và buồn trở về. Khi
tôi ra khỏi lầu, dòm qua một bên ngó thấy hai bờ cát
và trứng đá ngũ sắc pha lẫn vàng chói rọi. Trên cây
xem thấy nhánh như cây bình thường, nhưng lá
vàng, trái bạc chiếu sáng rực rỡ, xem rất ngoạn mục,
làm cho tôi quên trở về bản thể, cứ đến bờ cát leo
lên bẻ trái ăn, rồi leo qua cây khác, cho đến đỗi no
bụng, ý cũng chẳng muốn trở về bản thể, nhưng kỳ
quyết trở về để ngày khác công phu sẽ tiếp tục lại.
Khi tôi công phu lên tới Phật Sự cũng đảnh lễ
dưng sen như thường lệ, tôi cũng nhớ lại phụ thân
tôi còn ở Âm Phủ. Phật Sự dạy để đến lễ rằm tháng
7, là lễ ân xá vong linh mới được thi hành việc ấy.
Nhưng trong lúc thi hành đồ đệ phải bị nạn trong 21
ngày mới có ánh sáng thanh điển trở lại. Lúc ấy tôi
đảnh lễ Phật trở ra đi qua phía mặt trời để xem trong
ấy có những gì. Tôi thấy mặt trời là một vòng tròn
thật lớn, cũng không khác nào trái đất. Sự điều động
của mặt trời đủ ngũ sắc biến chuyển, duy có màu lửa
đỏ ở bên cạnh mặt trời, ý tôi hiểu biết lửa này sắc
quá đỏ, như than sáng, có thể tiêu diệt mình khi đến
đó. Nhưng tôi cương quyết đi càn. Đi vào trong thì
hình bóng tôi vẫn mát mẻ. Đi tới xem trong cảnh
mặt trời, xa xa thấy chư Tiên luyện phép, nào là: hồ
lô, quạt hoa tiêu, cập phách, chập chả, con cóc ba
chân v.v... bay nhảy giữa từng trời. Khi tôi ngó lên
Phép Xuất Hồn | 119
trời, lửa ấy cũng chói lên trên cùng, các tia sáng rọi
qua phía mặt trăng. Phía bên mặt trăng, thấy dưới
đất có nhiều biển lớn có sóng gió. Tôi cũng đi tới nữa
để thấy các vị chơn Tiên luyện phép. Nhưng vừa đi
tới thấy càng lúc càng xa, không thể gần chư Tiên
được. Tôi nản chí trở về.
Qua đêm sau công phu như thường lệ, tôi đi qua
phía bên mặt trăng xem như thế nào? Tôi thấy mặt
trăng là một vành tròn màu bạc, nhỏ hơn trái đất,
hơi nước lên mát lạnh. Khi vô đến mặt trăng, nhờ
ánh lửa bên mặt trời đối chiếu, hình bóng tôi vẫn
điều hòa, mát mẻ hơn bên mặt trời. Tôi dòm hứng
cảnh, đang tính đi phía nào cho vui thì thấy trong
mặt trăng có nhiều sông rạch, cây cối, cùng nhiều
hòn núi. Có những chòm cây lưa thưa, bông vàng
nhợt, bông trắng. Tôi đi đến các hòn núi, từ dưới mé
tôi vừa bước lên đỉnh núi, thấy núi khác thường,
toàn là bằng vàng ánh sáng lộng lẫy, vừa đi vừa sợ
trượt té nhưng không sao. Đi tới trên chót núi, tôi
thấy có một cái bàn bằng vàng, trên mặt bàn có tịnh
bình và một cái chén bằng vàng. Tôi được ngồi trên
một cái ghế băng dài, và tự cầm bình rót thì thấy
trong bình có nước, uống vào tựa như nước dừa,
thơm mùi hoa sứ, nhẹ nhàng. Tôi đứng dậy thấy có
một cây cầu chuyền qua hòn núi khác, dưới sông có
nước chảy, ngang qua cầu, mầu nước tựa thủy ngân
còn trên núi cũng bằng vàng, màu vàng dợt. Đi đến
đủ năm núi thì đủ năm sắc vàng, sắp đặt bàn ghế
120 | Đỗ Thuần Hậu
cũng như nhau. Tôi ngó ra sông thì thấy có ông Tiên
ngồi trước cỡi trái bầu mặc áo đỏ màu da trời, mặt
ông đã già, râu hàm én, lỗ mũi cao, sơn đình trợt.
Phía sau trái bầu có một bà Tiên, mặc áo màu xanh
lá cây, áo choàng như bà vãi có viền sòi đen và có chỉ
vàng, xung quanh có thêu nhiều đóm vàng ngũ sắc
cũng như sao. Ông Tiên, bà Tiên cỡi bầu bay theo
lòng sông. Tôi cũng đi theo người, muốn đi cho kịp
để hỏi thăm, nhưng ông bà cỡi bầu đi trớt không thể
hỏi được, nản ý tôi trở về.
Qua đêm sau, tôi cũng đi đến Phật Sự đảnh lễ rồi
cũng tiếp tục đi chơi mãi. Đến một vì sao phía Nam,
thì tôi thấy một vòng tròn lớn tựa như mặt trăng,
trong ấy màu lửa đỏ dợt nhưng có nhiều đóm sao của
mặt trời xâm nhập vào vành sao. Còn bên mặt trăng
thì cũng có nhiều đám sao màu bạc xanh xanh, xâm
nhập vào vành sao ấy. Tôi xem xong cũng cứ đi vào
trong sao này. Tôi cũng thấy các chư Tiên luyện
phép như bên mặt trời. Tôi vẫn đi cho đến nơi để tìm
hiểu nhưng không sao theo kịp mấy vị Tiên. Chán
nản tôi đi ra ngoài, vừa đi vừa ngắm cảnh trời, cũng
không thấy chi lạ, có nhiều từng mây và da trời vậy
thôi. Tôi trở về bản thể.
Qua đêm sau công phu, tôi cũng xuất hồn đi
đảnh lễ Phật như thường lệ. Lần này qua vì sao phía
Bắc, thì cũng thấy y như ngoài phía Nam. Tôi cũng
chán ý, bước ra ngoài, lên một từng không không,
thấy mệt quá, tan rã hình bóng. Một chốc lát hình tôi
Phép Xuất Hồn | 121
kết thúc lại như xưa, nhưng càng nhẹ và mau hơn
trước. Tôi cũng thấy da trời mênh mông, nhẹ nhàng,
mát mẻ khỏe khoắn. Tôi cũng cứ đi qua phía Bắc
ngắm cảnh thấy mù mịt như sương sa, trời đất bao la
rộng lớn, nhưng hơi thở khó chịu. Tôi chán ý trở về.
Đến ngày 14-7-1951, có một đêm tôi công phu,
qua viếng bên Cao Ly, tôi thấy có một cái giếng lớn,
ở dưới có nhiều linh hồn, con nít lẫn người lớn trôi
theo dòng nước chảy, không thể vô bờ được. Tôi
đứng than thở. Trời đất cho như vầy là đau khổ,
cũng do thời cuộc phát sanh. Tôi buồn chán nản
không thể tả được. Tôi đi đến một thành phố nọ,
thấy hoang vu, nhà xiêu cửa đổ. Đi dọc đàng thấy
nhiều người cất lều nhỏ bằng lá, đang chùm nhum lo
bữa cơm. Tôi thấy một phụ nữ nấu món ăn, rau cùng
gạo lộn xộn. Tôi đứng lại nhìn trời ảm đạm, mặt
trăng đã xế ngang đầu. Tôi càng chán nản hơn nữa,
quay lại bước lên trên mây trở về bản thể tôi. Đến
sáng lại, tôi nhớ lại lúc công phu, thấy những chuyện
kể trên, rất buồn cho nhân loại. Trong ba đêm tôi
nghỉ công phu, trực nhớ lại linh hồn ông thân tôi,
đang còn sa đọa nơi âm phủ. Tôi cũng vâng lời theo
Phật Sự dạy, tới đêm 18 tháng bảy, tôi nhất định đi
xuống Âm Phủ. Trong lúc công phu hồn tôi được đi
trên một con đường thẳng thắn. Tôi cứ đi tới, thấy có
122 | Đỗ Thuần Hậu
một ngả tẽ bên tay mặt, có một con đường nhỏ hai
bên bờ có cỏ và tre lưa thưa. Tôi tiến tới thấy có bốn,
năm hình bóng ốm yếu, gầy gò như một bộ xương,
mặc quần áo tả tơi, hình như đã bị đói khát lâu rồi,
đi không muốn nổi. Tôi vừa đi vừa thấy có hai, ba lều
nhỏ lợp bằng lá, có treo năm ba nải chuối, trên mặt
bàn có một chảo đồ ăn. Lều vắng teo không một ai
mua bán cả. Đi thêm một khúc đường, thấy có một
cái rạch, có cây cầu đúc bắc ngang, có lan can, độ
chừng 200 thước tây. Ngó xuống rạch, thì thấy đủ
loại rắn, lội đặc trên mặt nước không thể tả. Bước
xuống đường thì có một cái thang đi xuống đường
phía bên tay mặt. Tôi đi tới thấy có một cái thành
rộng lớn, bao la. Ngoài thành có nhiều xe kéo, gọng
trở ngược, người sau đẩy tới. Đến tại cửa thành, tôi
thấy hai người lính, mặt mày dữ tợn, mở cửa xe dẫn
tội nhân vào. Tôi liền hỏi, hai người lính nói đây là
Âm phủ. Tôi cũng thừa dịp theo sau và tiến tới điện
Diêm Vương. Lúc ấy Diêm Vương gật đầu chào và
hỏi tôi đến có việc chi? Có phải là ông xuống rước
linh hồn của ông già ông về núi Côn Lôn Sơn, cõi
Trung Thiên thế giới để tu luyện không? Tôi nói:
"Muôn tâu bệ hạ phải."
Ngài Diêm Vương hỏi qua tên họ hai tù nhân do
lính dẫn vào, thì Diêm Vương phán qua, dở bộ để ghi
tên ngày hôm nay, ngày mai sẽ công bố. Ngài phán
hai người lính đưa tù nhơn vào khám. Tôi cũng xin đi
theo cho biết. Khi tôi bước chân vào khám thấy phía
Phép Xuất Hồn | 123
ngoài có cửa sắt, lính mở cửa dẫn tù nhân vào, thấy
có một cây sắt chận ngang, có nhiều còng để còng
tội nhân. Lính nói chỗ này để giam tội, còn khám
phía trong kế đây thì giam những tội nặng đã xử rồi,
nhưng chưa hành quyết. Tôi cũng xin phép hai cậu
lính để sang xem khám ấy. Hai cậu đưa tôi đến
khám. Tôi thấy có băng ngang, mỗi băng khép sáu
người, trên miếng ván khoét lỗ tròn để còng cổ. Ở
dưới thì ván ép chân lại. Tôi hỏi cậu lính còn chỗ nào
nữa không. Cậu nói đây là hết. Đến khi cậu lính ra về
thì tôi cũng đi theo. Khi về đến điện, Diêm Vương
dạy hai cậu lính dắt tôi đến trại thứ 8 tên là Kiên An
Cảnh. Khi tôi vào đến thấy nhiều phạm nhân đang
ngồi tù. Hai cậu lính nói, chỗ này kêu án khổ sai 10
năm rồi luân hồi. Cậu lính đưa tôi đi một khúc nữa
đến trại 11, tôi được thấy linh hồn phụ thân tôi đang
ngồi. Cậu lính đưa linh hồn phụ thân tôi cùng về
điện Diêm Vương. Diêm Vương dạy phán quan dở sổ
ghi tên họ và nói rằng:
"Tội nhơn này được về Côn Lôn Sơn tu luyện, do
lịnh Phật ân xá."
Khi tôi bước ra đường, đến một cái cầu đâm ra,
thì thấy lính dẫn tội nhân ra đó để hành quyết. Lúc
ấy, lính xô tội nhân xuống nước, có nhiều rắn đến
cắn mổ. Tội nhân vẫy vùng la khóc om sòm. Tôi sợ
quá, hối thúc phụ thân tôi đi. Chúng tôi leo lên thang
cầu. Khi đến cầu thì thấy có một đồng tử hỏi tôi:
"Hai người này phải về Côn Lôn Sơn không?"
124 | Đỗ Thuần Hậu
Tôi nói: "Phải", ông dạy đi theo ông sẽ đến Côn
Lôn Sơn.
Sau khi đến Côn Lôn Sơn thì thấy bên sườn núi
có một bàn thạch, phía trong có hang rộng lớn, trong
hang có một lư hương và một bình bông.
Tiên đồng dạy phụ thân tôi phải ở đó để tu, dày
công tu thì sẽ lên cao. Đây là cõi Trung Thiên thế
giới, ông đã thoát khỏi địa phủ rồi. Tiên đồng nói:
"Thôi tôi xin trở về."
Tôi yêu cầu tiên đồng triển lại cho tôi một lát để
tôi được tiếp chuyện với ông thân tôi. Lúc ấy tôi
đảnh lễ ông thân tôi, thì thấy ông mừng và nói: "Nhờ
con cứu vớt nên cha mới được đến đây", và ông có
hỏi tôi có biết đến mẹ tôi không.
Tôi thuật lại, mẹ tôi đã được hầu Lê Viên Thánh
Mẫu. Kế tiên đồng hối thúc tôi phải về vì đã đến giờ.
Tôi an ủi ông thân tôi ráng tu, rồi tôi từ giã luôn.
Từ đó tôi công phu một tháng vô hiệu quả không
thấy được ánh sáng. Qua tháng sau tôi công phu
được hườn nguyên hình và đi lên đảnh lễ Phật như
xưa.
Qua đêm sau, tôi cũng công phu, và bẻ sen ngũ
sắc hai bông, chia ra làm hai bó để dưng cho Phật Sự
và Quan Âm Bồ Tát. Lúc ấy tôi hồi tưởng những linh
hồn đau khổ bên Cao Ly. Tôi xin phép Phật Sự và
Quan Âm Bồ Tát cho tôi hiệu triệu các đấng linh hồn
trên thế giới, không phân biệt màu da và tiếng nói.
Phép Xuất Hồn | 125
Phật Sự và Quan Âm Bồ Tát đồng ý và cho là có lòng
bác ái, rồi tôi bái biệt trở về bản thân.
Qua đêm kế, tôi cũng bẻ sen làm như thường lệ,
đến Phật Sự và Quan Âm Bồ Tát đảnh lễ rồi thì Phật
Sự ban cho tôi một cây cần, ở dưới treo vải phướn
ngang năm tấc, dài hai thước, có nhiều vải thẻ bao
vòng tròn xung quanh, dưới vải thẻ có bản ấn của
Phật. Lúc ấy tôi được lịnh Phật sai bước ra vòng trời,
nơi thượng từng không khí dòm xuống đất, thấy
sông, biển, núi non, cây cối, hoa quả, nhà lầu, nhà
trệt, nguy nga đủ các khóm. Khi tôi dơ cây phướn lên
để hiệu triệu thì hô lên như sau:
"Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)"
"Cầu xin các đấng chơn linh, các sắc màu da và
tiếng nói cùng các tôn giáo tất cả, sau nữa, vạn vật
đồng của Trời Phật hóa sanh, nào là tà ma quỷ quái
hiện tại ở trong thế gian này, xin cải tà quy chánh,
xin bỏ cố thù thích oán, phải ăn năn theo lịnh, quy y
Phật để thoát vòng lao lý, cực khổ, được cố tâm tu
thì sẽ được thoát kiếp, cũng có thể ở nơi cõi Phật tu
hành, được thăng cấp bực."
Tuyên bố vừa rồi thì có nhiều hình bóng các tôn
giáo đứng trước mặt tôi, xin thay lời để tiếp tục nói
lại những câu kể trên cho các chơn linh nghe. Lúc ấy
tôi niệm Phật, và vác phướn đi chung quanh chân
trời toàn cõi thế giới, đi theo khu ốc, dẫn các chơn
linh đến Phật Sự và Quan Thế Âm Bồ Tát.
126 | Đỗ Thuần Hậu
Tôi đảnh lễ Phật, trình diện các chơn linh và cầu
xin cho các linh hồn được quy y Phật, quy y Pháp và
quy y Tăng.
Lúc ấy Phật dạy phải vác phướn hiệu triệu và đưa
các chơn linh đến động của "Tiêu Diện Đại Tướng
Quân."
Khi tôi vừa đến cửa Đức Tiêu Diện tôi thấy hai
bên cột trụ cửa rất cao và có một cánh cửa nguyên
tấm, bề ngang ba thước, bề dài bốn thước. Chính
giữa tấm cửa, hai bên cột trụ có cột sắt. Tự nhiên
cửa ấy tung lên, tôi vác cờ hiệu triệu vô, tôi thấy Đức
Tiêu Diện mặt mày dữ tợn, từa tựa mặt hổ lang, mặc
áo lông cọp, dưới vận chăn da cọp, mang một đôi hia
đen và vớ có vần xéo trắng.
Ngài nói tiếng hùng hào:
- ''Đây là các chơn linh đến tu phải không?''
Tôi đảnh lễ Ngài và đáp:
- "Mô Phật, xin đưa các chơn linh đến quy y Phật,
quy y Pháp, quy y Tăng."
Đức Tiêu Diện Đại Tướng Quân cầm một cây cờ
xéo vải trắng, ria đen, có sòi dấu xung quanh bay
tung lên cao khỏi đầu tôi ước chừng ba thước, ra lịnh
cho các chơn linh vào. Lúc ấy tôi cũng đi theo để
xem trong ấy có những gì. Tôi dòm qua phía bên
mặt, thấy những bà phước mặc quần áo như dưới thế
gian, cũng chắp tay dưới ngực. Đến chặng khác thì
tôi thấy nhiều phụ nữ mặc áo đủ màu như người Việt
Nam. Một tốp khác mặc áo như người Trung Hoa, có
Phép Xuất Hồn | 127
viền vải đen và có thêu đủ thứ chỉ ngũ sắc, đứng
trên một tấm đá có bông, đưa tay chào nhiều kiểu:
tay mặt giơ lên, tay trái chống nạnh, hai chân đứng
thẳng rẵng. Cũng có người làm như vậy, nhưng lại co
một chân. Tôi cũng cúi đầu chấp tay Mô Phật. Vô
đến một lớp nữa, tôi thấy những người đàn bà Ấn và
Cao Miên, choàng chăn như ông sãi chấp tay trên
trán chào tôi. Tôi cũng trả lễ: "Mô Phật." Rồi tôi đi tới
nữa thấy còn hằng hà sa số chơn linh nam, phụ, lão,
ấu, đủ các nước, không thể tả cho xiết được.
Lúc ấy gần đúng giờ, tôi trở lại đảnh lễ Đức Tiêu
Diện Đại Tướng Quân cầu xin ngài hộ độ cho các
chơn linh được tu hành và độ cho tôi công phu được
sáng láng. Đoạn tôi rút cây phướn, xin ra về. Tôi trở
lại Phật Sự và Đức Quan Âm đảnh lễ xong xuôi trở
về bản thể.
Qua đêm sau, tôi cũng tiếp tục công phu như
thường lệ, trong năm bảy ngày công phu cũng có
một lần đi hiệu triệu. Làm như vậy, trong ba tháng,
có một hôm, tôi cũng công phu đi đến Phật Sự và
đến đảnh lễ Đức Quan Âm. Đức Quan Âm phán
rằng: "Cho con được quyền đi hiệu triệu, khi nào bản
tánh nhớ đến là đi."
Tôi đảnh lễ rồi ngó lại hình bóng tôi. Có mặc áo
cẩm bào thiết giáp tựa như y phục Hộ pháp, trên đầu
đội cái mũ sòi vàng ba bông đỏ, hai lỗ tai đeo hai cục
ngọc có tuôi. Tôi mừng và đảnh lễ Đức Quan Âm và
Phật Sự rồi trở về bản thân.
128 | Đỗ Thuần Hậu
Một hôm nữa tôi công phu, đến đảnh lễ Phật Sự
như thường lệ. Đức Phật cho tôi biết trước, đến
tháng 6 năm 1958, tôi mãn số, nhưng khuyên tôi
rằng: "Môn đệ ráng cần mẫn tu thêm". Lúc ấy tôi
đảnh lễ và trở về bản thân. Sáng lại, tôi lâm bệnh,
xem lại lịch thì nhằm tháng 4 năm 1956 mùa hạ.
Bệnh của tôi trầm trệ, ăn không ngon. Đến khám
bệnh, bác sĩ cho hay là bệnh đau gan, bao tử và ruột.
Tôi uống thuốc và tiêm thuốc, khi bớt, khi không.
Tôi đến Sư tôi là ông Cao Minh Thiền Sư, ông
cũng được biết, đến năm 1958 tôi sẽ bị nạn. Sư tôi
dạy tôi lên chùa Châu Thới, có ông thầy coi chùa,
nương theo đó mà dưỡng thân tị nạn, và có một
người phụ nữ là môn đệ của Sư tôi, hộ dưỡng cho
trong khi có việc cậy đến. Nhưng tá túc được bảy
ngày, có Sư tôi lên thăm, tôi tỏ ra không thích ở nữa
vì sự tu hành khác chí hướng. Tôi yêu cầu Sư tôi cho
phép tôi về, thì Sư tôi cũng có lòng chọn nhiều chỗ
rất tốt, tại nơi Cầu Bông, Bà Chiểu để cho tôi cất lều
ở, vì ở đó cũng có nhiều phụ nữ, môn đệ của Sư tôi
ở, tôi có thể ở đó coi chừng phái nữ thế giùm cho Sư
tôi luôn thể. Nhưng tôi không vừa ý, trở về nhà đi
tầm chỗ tu tâm dưỡng tánh. Lúc tôi đang suy tính thì
có một môn đệ tôi, tên là Chín Vàng, một cô tên là
Năm Mẫn và một cô già, môn đệ của Sư tôi, xin đi
theo để nhờ tôi trị bệnh, tất cả đồng sửa soạn hành
lý, đi xe tới Long Thành, thuê xe ngựa vào chùa
Thiên Thai chín nóc. Chỗ đó êm đềm đất rộng,
Phép Xuất Hồn | 129
nhưng vắng người vì thời cuộc. Khi xe đến chùa,
chúng tôi mang hành lý vào chùa xin ở tạm thì có
ông Sư ở chùa tên là thầy Bảy, thuật lại rằng:
"Phía sau cách chùa chừng 100 thước kế bên núi
có động tên là Linh Quy."
"Linh Quy" là một mái đá của núi ve ra, của Đức
Thầy Thiên Thai trước kia, kêu thợ hồ xây đắp trên
nóc hình một con rùa. Ở dưới có nhiều cục đá chỏ
lên làm cột và vách đá thẳng dính vào núi. Trong ấy
sắp đặt đủ tiện nghi tu hành, nhưng lúc thời cuộc bị
phá hư hao chút ít, cho đến chùa Thiên Thai cũng
vậy.
Tôi xuất ra 2,000 đồng để cúng chùa và xin sửa
chữa ba ngày. Lúc ấy thì ông thầy Bảy đưa tôi đến
gặp ông hộ trưởng là một ông cựu tri phủ cùng một
họ với tôi. Ông ấy đồng ý cho tôi ở tạm tại chùa bảy
ngày để sửa sang động "Linh Quy." Lúc ấy người
bệnh là cô Hai, nghịch chí hướng xin về, còn lại ba
người. Sửa sang động "Linh Quy" xong, tôi ở được ba
tháng thì bệnh tôi cũng được thuyên giảm hơn lúc
trước.
Đến năm 1957, bệnh tôi trở lại nhiều, tôi đến
Saint Paul điều trị hao hơn 12 ngàn đồng. Một hôm,
tôi nằm vừa nhắm mắt thấy Đức Quan Âm Bồ Tát
đưa tay rờ ngực và bụng tôi. Sáng lại, bệnh tôi chỉ
còn chút ít thôi. Tôi ráng ở nhà thương hai ngày rồi
về.
130 | Đỗ Thuần Hậu
Dưỡng bệnh một tháng tại nhà, tôi cũng phổ độ
cho toa cứu bệnh, cũng chữa các bệnh lãng trí. Tôi
thường nghiên cứu, nhắm ở đây mà biết được bên
kia.
Có một người bạn của tôi tên là Hoàng Chí Doãn
đưa một bệnh nhân lãng trí đến. Tôi cũng theo con
mắt để dòm xem gia đình ấy bị cái gì? Tôi được thấy
có một gốc cây đã bị đốn, tôi có vẽ hình tướng gốc
cây, rồi tự đi đến nhà chùa mà xem, thì thấy rõ y
như vậy. Tôi biết bệnh này lâm vào ngũ hành, vì lập
chùa thờ Phật, nhưng chí hướng theo ngũ hành, là
đem lại nguồn lợi cho nhà chùa, cho nên nội bọn đều
bị nhơn quả không thể chữa hết. Có nhiều trường
hợp tôi đã xét và thấy như vậy, muốn nghiên cứu sự
thật, có phải là tôi đã được lên trời không? Lắm lúc
tôi xuất hồn làm tan đám mây trên trời. Sau khi mở
mắt xét lại thì cũng y như vậy. Tôi vẫn được biết ngũ
hành là giúp cho bản thể mọi người cùng linh hồn.
Qua tháng sau, tôi công phu như trước. Lúc ban
ngày tôi cũng nhắm mắt lên trời xem xét cơ cấu hoạt
động của ngũ hành và Tiên Phật. Tôi xuất hồn đi mỗi
ngày một giờ vào buổi sáng lúc 8 giờ, cứ 15 phút
phải trở về bản thể, nói lại cho thơ ký chép, chỉ được
thấy cảnh này cảnh nọ thôi, tất cả bao la trong chín
tầng Trời Phật. Lên đến từng "Minh Triết" có mây
sáng chói nhưng không cảnh, tôi được gặp một ông
hình đen như đồng đen sáng chói. Tôi đảnh lễ và hỏi
ông, ông chỉ nói "Mô Phật" mà thôi. Cộng lại tất cả,
Phép Xuất Hồn | 131
tôi đi một tháng 28 ngày, phí công vô ích. Tôi tức
mình, một hôm, tôi công phu đến đảnh lễ Phật, Phật
hỏi:
- "Môn đệ đi dạo các từng trời Phật có thấy chi
không?"
Tôi đảnh lễ thưa có, nhưng Đức Phật cũng không
đề cập đến chuyện trên trời.
Tôi trở về bản thân, tiếp tục công phu trong mười
ngày như thường lệ. Một hôm đúng ngọ, trên đầu tôi
nghe một tiếng nổ nhỏ, tôi thấy hơi nặng đầu, tôi
nhắm mắt dòm lại trong ngũ tạng tôi thấy ánh sáng
mặt trời rọi đủ nào là mây, sao, mặt trời, mặt trăng
cũng như trên trời.
Tôi mở mắt suy nghĩ cho bản thể ta là "Tiểu
Thiên Địa" thật không sai, và lại nhắm mắt công phu
như thường lệ.
Qua bữa sau, khi ăn sáng vừa rồi, thì tôi thấy con
mắt tôi chói một lằn sáng, tôi chẳng biết việc gì? Tôi
nhắm mắt xem lại, thì cũng như hôm qua. Trong
lương tâm tôi bắt buộc suy nghĩ bầu trời thế giới trái
đất và những ngũ hành trọng trách, làm việc từ dưới
đất cho tới trên trời. Tôi được phát huệ thấy rõ. Tôi
hồ nghi và tự nhắm mắt xuất hồn lên không trung
dò xét lại một lần nữa, thì cũng không khác gì sự
thấy khi tôi mở mắt.
Tôi được thấy hình thù trái đất to lớn, hình tròn
như hột vịt. Ngay giữa trái đất, phía dưới có một lỗ
hủng, theo như hình vẽ sau đây:
132 | Đỗ Thuần Hậu
Dưới đất có nhiều đất ngũ sắc, xung quanh trái
đất là nước bao bọc. Dưới đáy nước có nhiều chất bã
hèm làm cho chất nóng có khói nhiều và nóng thêm.
Khói là cặn bã của không khí, bưng nổi trái đất lên,
đi theo đường bát chánh, ngươn khí chạy tung lên
bầu trời. Khi vũ trụ ở trên trời đưa xuống để tiếp vũ
trụ trái đất, hợp với năm vì sao ngũ hành thừa tiếp
cho mặt trời và mặt trăng. Bởi thế trong ngũ hành có
một vì sao Ô Mẫu Kim để cầm cán động cơ, thừa tiếp
với trái đất cùng tất cả ngươn khí. Trái đất đưa
ngươn khí lên, ngũ hành chịu trọng trách đủ mọi
mặt, cùng thừa tiếp mặt trời mặt trăng để hóa dục
quần sanh.
Phép Xuất Hồn | 133
Sự hóa dục quần sanh do 9 từng Trời, 10 phương
Phật chứng kiến và lập ra nhiều nguyên tử lực mặt
trời mặt trăng để hóa sanh người.
Nguyên tử tiên thiên kết hợp lại thành hồn, còn
trái đất có ngũ sắc và ngũ kim hóa khí tung lên khỏi
mặt đất sáu lớp. Nguyên tử của trái đất lớp trên hợp
với nguyên tử thanh khí trên trời xuống, lớp nào
thừa nhận lớp nấy, phân biệt theo vòng bánh luân
xa, phối hợp trên trời và dưới đất thành ra một chất
nguyên tử thiêng liêng gọi là linh hồn của con người.
Còn vợ chồng, âm dương cấu tạo, chỉ làm thành
bản thể mà thôi. Trong bản thể có 7 vía là : ngũ tạng
và hai con mắt.
Trái tim, lá gan, trái cật, phổi và xương do ngươn
khí của người đàn ông lập thành.
Bao tử, ruột, bọng đái, gân và thịt thì do ngươn
khí của người đàn bà hợp thành.
Hai phần kết hợp lại thành một cái thai, đó là loài
người, xương sống đứng làm chúa tể muôn vật, loài
xương sống ngang cùng loại bò sát. Duy có loài khỉ
bò leo và ít đứng, khỉ cũng được hóa sanh loài người.
Những loại trên đây cũng sanh bởi hột nguyên
tử, hai phần khí nóng của thượng từng trung khí do
mặt trời điều khiển, pha lẫn với trung và hạ tầng
không khí nguội do mặt trăng điều khiển. Còn loại
thủy tộc cũng do mặt trăng và khí lạnh hóa sanh. Sự
nuôi dưỡng nhờ không khí nóng của mặt trời hợp với
thủy tinh thạch, làm thành chất nguyên tử để hóa
134 | Đỗ Thuần Hậu
sanh. Sự tiến hóa của các nguyên tử lực do nơi ngũ
hành làm ra.
Đây nói đến hột nguyên tử, góp các không khí
ngũ hành thượng từng, trung từng và hạ từng, tiên
thiên, hậu thiên hợp lại, cũng kêu là vi trùng, nương
theo sóng gió biến chuyển thành một thứ vi trùng
tròn trơn láng thì biến ra vi kỳ như cá, còn thứ nào
có gai góc thì biến ra lông lá và chân cẳng.
Những loại nào ở nơi các cây cối rừng rậm hóa
sanh, phía dưới đất có những màu gì và mặt trời
nóng hay là mát, ưa ăn các thứ cây cỏ, hoặc là vật
nhỏ hơn nó, tùy theo chỗ không nhất định được.
Ví dụ như tại Cao Miên, dưới trái đất có bả hèm
đen, sanh loại kim khí ô thạch, thì người ngươn thỉ
hóa sanh màu da thâm đen. Loài vật cũng như loài
người, màu da cũng đen.
Bên Ấn Độ cũng hóa sanh màu đen, đời vô thỉ ở
dưới đất sắc vàng đỏ, loài huỳnh kim thạch hóa sanh
ra người Ấn Độ, máu đỏ da đen, bề ngoài do nơi sự
hấp thụ gần mặt trời. Muốn biết rõ, lấy con vật để so
sánh, thì con chó ở Ấn Độ da đen, lông thưa và hơi
láng, còn con chó ở Việt Nam và Cao Miên thì da
vàng và nhiều lông hơn. Đây là nghiên cứu về đời
nguyên thỉ. Còn đời sau này, khí trời đất sanh nhơn
vật thì các loại đực cái phối hợp để truyền bá giống
Phép Xuất Hồn | 135
nòi, lưu truyền cho tới ngày nay. Những loại có lỗ tai
dài thì cơ quan, ngũ tạng đủ như con người. Cũng có
một phần khác, thiếu chút ít, như là loài ăn cỏ, các
loại này đực cái giao cấu đẻ ra con. Còn các loại lỗ tai
trệt thì cơ quan thiếu hơn loài trên, ăn cỏ, ăn trái cây
và ăn sâu bọ, cũng giao cấu đẻ trứng.
Các loại vật ngũ hành ở trên trái đất này hợp với
nước hóa sanh, phát triển lên trên không hợp với khí
mặt trời, trong ấy pha lẫn các khí nguyên tử ngũ
hành sanh ra cái không không nhẹ nhàng ở trên, khí
vừa vừa ở giữa, khí nặng ở dưới chót, để hóa sanh
cùng nuôi dưỡng nhơn vật.
Khi tôi được sáng suốt trong lương tâm, theo ý
thấy sự thật, nhưng tôi cũng không tin cho tôi, vì vô
bằng cớ. Tôi lấy làm tức, bởi vì nguyên thỉ là cao xa,
mấy ngàn năm về trước, còn như tôi (lúc viết lời
tường thuật này) có 76 tuổi, làm sao thấu đáo được
những điều quá xa xôi.
Bởi thế tôi phải nghiên cứu như dưới đây:
Lấy đất bỏ vào nước, tôi thấy đất chìm xuống,
như vậy mà nói trái đất nổi là tại sao?
Tôi lấy một cái ly, đổ hai phần nước, lấy giấy bịt
miệng ly lại, rồi lật úp cái ly lại, tôi thấy không khí
rất đỗi mạnh, rút miếng giấy ở dưới đáy nước, nên
nước không chảy ra. Miếng giấy mỏng manh mà vẫn
có sức chịu đựng tới 2/3 ly nước. Nước nặng hai phần
còn không khí có một phần. Xem như trên, thì trái
đất cũng nhờ không khí nóng và không khí nguội
136 | Đỗ Thuần Hậu
pha lẫn đỡ lên, nên trái đất chìm thành nổi. Chất
nóng và chất lạnh đưa lên trên không, biến thành hai
thứ lửa chiếu theo vòng quanh chân trời, hóa một
bóng tròn thành mặt trời, bao bọc chất lửa, dưới đất
phía bên cao xẹt lên đó, rọi ngang qua bên thấp,
chiếu theo đường kính đạo.
Còn đóm lửa bên thấp dưới trái đất thoát lên trên
không, chiếu vòng quanh chân trời, hóa hình mặt
trăng. Chất nguội của nước gọi là chất điển lạnh, pha
lẫn phối hợp điều hòa thành chất dưỡng khí, để hóa
sanh mọi mặt cùng nuôi dưỡng nhơn vật.
Chất nóng và chất nguội cũng đều mạnh. Sự
nghiên cứu như sau đây:
Lấy một cái ve chai miệng hẹp hơn cái trứng gà
lối ba phân. Đổ nước sôi vô chai làm chất lỏng có hơi
nóng, lột một cái trứng gà luộc sơ, bỏ vỏ, để trên
miệng ve ấy, nhờ không khí nóng rút trứng gà vào
ve, đó là sức mạnh của nước.
Lấy một cái chai khác như trên, lấy một miếng
giấy đốt lửa bỏ vào chai thì cái không khí nóng của
lửa nó cũng hút vào.
Nghiên cứu về mặt trời mặt trăng, khi trời nắng,
tôi lấy một cái kiếng mặt lồi, rọi ánh nắng mặt trời
chói vào mặt kiếng, thì tôi thấy một đóm lửa tròn ở
ngay giữa, thâu chất nóng vào rọi xuống, có thể đốt
cháy điếu thuốc, nghiên cứu bên nào thì rọi bên ấy,
cũng như mặt trời mặt trăng đối chiếu. Còn các vì
sao thì nhờ tia sáng mặt trời chiếu xẹt ra những đóm
Phép Xuất Hồn | 137
lửa gọi là sao, nhưng bên mặt trăng là nước pha lẫn
với lửa cũng đối chiếu, vì sao ấy gọi là hành tinh,
cũng có thể gọi là ngũ hành phối hợp không khí ở
dưới trái đất, và không khí mặt trời mặt trăng hóa
thành gọi là sao. Nhưng ban đêm ta thấy có đường
kính đạo ở dưới trái đất chiếu lên trên không, từng
trời, thì đường kính đạo cũng do nơi khí nóng khí
nguội của trời đất phối hợp gọi là giải Ngân Hà. Hai
bên giải Ngân Hà có nhiều sao mọc dài theo hai
đường thẳng rẵng đầy cả sao, thì cũng như trên mặt
trời mặt trăng chiếu nhiều đóm lửa phối hợp biến
thành. Từ đó rọi lên thượng từng minh triết cũng y
như vậy, bắt trên không phản chiếu xuống trần gian
trên mặt trái đất, có nhiều hòn núi ngũ sắc là do nơi
chất nóng, như bụi cát, trong bụi cát có chất nhớt,
nhờ sự nóng gom góp các bụi nhớt hợp thành cả khối
đá liên kết với nhau, nổi lên trên mặt đất, ban đêm
nhờ sức lạnh của mặt trăng, ban ngày nhờ sức nóng
của mặt trời, trở nên một vật cứng thành đá. Trong
khối đá, có sự sáng của mặt trời mặt trăng chiếu
diệu, làm ra một chất kim khí. Thì trong cục đá,
người ta ngó thấy những chất sáng như vàng bạc và
có nhiều thứ hợp ngũ sắc. Những chỗ nào dưới đất
dày, sắc nào nhiều hơn thì sắc ấy mạnh mẽ hơn, hóa
ra núi đen gọi là đá bùn để dùng làm đá mài dao.
Còn núi đỏ do nơi khối đất đỏ kết thành một hòn núi,
trong ấy có sắc trắng và sắc vàng màu huỳnh, gọi là
đá cẩm thạch chung đúc nổi lên thành núi, trong đấy
138 | Đỗ Thuần Hậu
có thứ đá tinh khiết, để làm chuỗi hột bích. Có một
thứ đá trong và sáng ngời nhờ nơi khí mặt trời và
mặt trăng, nó cũng chói lóng lánh, những người
được khối đá đó để làm hột ngọc, quả xoàn.
Núi xám trắng, thứ đá tinh ba của núi, trong khối
đá ấy có thứ đen để làm huyền, núi nào có huyền thì
cũng biết được. Buổi sớm mai, lúc còn sương mù,
người ta thấy có một ngọn khói đen từ trong núi bay
tung lên. Khói đen ấy nó chạy ruồng cũng khó tầm.
Chất đá thường người ta lấy để làm vôi và ciment,
núi xanh cũng vậy.
Núi vàng, cát to, người ta ưa đục lấy làm đá mài
dao, trong đó chất nóng hợp với khí đá, những mỏ đá
thành dầu lửa. Dầu lửa cũng chạy có mạch theo
hang. Núi này ở dưới có nhiều chất acide naturel.
Còn dưới chân núi có nhiều thứ cùng vàng pha lộn
đất, hiệp với chất nóng ở dưới đáy đất đưa lên. Còn
mồ hôi của cát thành ra một thứ phèn đen và cát lồi.
Trên mặt trái đất, tùy theo khối ngũ sắc sanh ra
nhân vật, cây cối, hoa quả, do mặt đất sanh ra. Còn
loại côn trùng, chỗ ăn ở, tùy theo màu sắc, do nơi cây
cối nuôi dưỡng nó. Nhưng mỗi núi đều có nhiều khói
kim khí cũng tùy theo sắc đá mà thôi.
Đây nói về bốn biển:
Dưới biển có chỗ cao như đồng nội, có chỗ thấp
như thung lũng, có bông đá và san hô, có màu chói
rọi là kim khí nước cũng do ngươn khí của trời đất
tung ngang qua dưới đáy. Ngươn khí ấy chạy qua
Phép Xuất Hồn | 139
đường kính đạo, có thứ chạy ra biển, còn có thứ hơi
để đùa nước ra dựa trái đất, nước nổi lên có bong
bóng gọi là sôi tim. Bong bóng ấy nổi vừa tới mặt
nước thì bể ra, kêu tiếng ầm ì, có âm thanh, dợn
sóng, sóng làm ra gió, gió đốc sóng làm thành luồng
sóng lớn, gọi là động cơ của sóng và gió.
Nước cũng có bốn thứ: có thứ màu đen mùi nồng,
thứ đỏ mùi chát, thứ xanh mặn, thứ trắng ngọt. Trên
mặt nước có nhiều bọt nước, cũng có màng màng.
Bọt nước là sóng gió làm ra, còn màng màng là do
chất acide dưới đáy biển nổi lên. Acide ấy là do loại
mủ dầu của cây lá ủ mục, lâu ngày thành ra chất
acide. Dưới đáy nước có một thứ nhớt, đóng tròn
dày, cũng biết ăn uống và bò. Loại ấy có khí hóa
sanh cá voi. Cũng có một thứ khác về loại acide có
vôi và có chất nóng, hóa sanh một miếng tròn lớn có
gai và có nhớt, do nơi sóng gió đánh nhồi cục,
chuyển động lâu ngày miếng ấy rút nhỏ lại thành
đầu, miệng, mắt, bốn phía có bốn cái gai lớn làm
chân, phía sau có một cái gai nhỏ làm đuôi. Thứ này
gọi là heo nước, lội dưới nước và đi trên mặt đất,
cũng ăn đủ thứ sò ốc, cũng lên bờ ăn nhiều thứ cỏ,
bụng lớn, có thể bò hít không khí rồi lặn xuống nước
chịu đựng 24 giờ.
Còn nhiều thứ dài, tròn có nhớt và nhỏ, làm ra
nhiều thứ cá nhỏ, rắn đỉa, cũng nhờ sự hoạt động
của đất và nước mới biết lội. Sức mạnh của nó nhờ
hơi lạnh của kim khí san hô cùng nhiều thứ đá dưới
140 | Đỗ Thuần Hậu
nước. Hơi lạnh ấy tiếp sức cho sự hô hấp nhưng loại
này cũng được trồi lên mặt nước hấp thụ không khí.
Có thứ chịu được 12 giờ đồng hồ, còn thứ nhỏ thì
chịu ít hơn. Những loại khác cũng có thể dựa nhiều
rễ cây, nhớt nước đóng vào biến ra lươn chình. Còn
các thứ cây lớn mục, có chất mặn là vôi, hóa sanh ra
loài cá đao, cá nhám, cá dược, cá người. Loài cá đao
tu lâu ngày biến hóa ra thành con nai, lên trên bờ
làm thú vật. Còn loại sò tu lâu ngày biến thành chim
se sẻ, bay tung lên trời. Ngoài ra, dưới đáy biển có
một chất acide nóng lắm, sanh lửa, ban đêm lạnh
trời, hợp thành một đóm sáng bắt từ đáy biển tung
lên khỏi nước và trên không, người ta gọi là ngũ
hành thủy tinh.
Tóm lại, những cảnh giới mà tôi được thấy thì
không sao kể hết được. Tôi thiết tưởng mọi người
cũng có thể luyện được, nếu chịu khó nghiên cứu, và
chịu khắc phục.
Sau đây tôi xin giải thích thêm về phần "Hồn" và
"Phách" của loại người, theo sự nghiên cứu của tôi
như sau:
Trong bản thể con người có hồn và phách. Hồn là
một thứ tiên thiên đưa xuống. Trong hột nguyên tử
có thanh khí của ngũ hành tiên thiên phối hợp với
ngũ hành hậu thiên gọi là trần gian.
Phép Xuất Hồn | 141
Bởi sự cấu tạo của nam nữ kết thành một đốm
máu, trụ trong bầu hợp khí của nữ giới. Cục máu ấy
trong một tháng tròn dẹp và lớn chừng hai phân.
Chất máu ấy gom lại, đầy và tròn, có lằn nứt như
hình mặt trăng lưỡi liềm, rồi chẻ phía dưới làm chân,
phía trên làm tay, lần lần do người mẹ hấp thụ khí
âm dương liên đới với ngũ hành tinh (kim, mộc,
thủy, hỏa, thổ) hợp thành ngũ tạng (tâm, cang, tỳ,
phế, thận) và ngũ quan đầy đủ.
Sự cấu tạo do nơi tư tưởng và ân tình âu yếm của
đôi nam nữ, trong lúc cấu tạo người, nữ được hít
"nguyên tử âm" thuộc "Phách", người nam được hít
"nguyên tử dương" thuộc "Hồn". Sự cấu tạo cũng tùy
theo điển thấp cao, tùy phúc đức của người đàn ông
và tư chất của người đàn bà trong thế gian này.
Tùy theo phúc đức của đôi bên, thấp hay là cao,
mà sự hợp phối nguyên tử tiên thiên và hậu thiên
kết thành một cái thai có Hồn của đàn ông và Phách
của đàn bà.
Trời Phật ban bố cho đôi vợ chồng được sanh con,
nếu ở lành thì con được thông minh, sáng láng, còn
nếu ở dữ thì sanh con u mê, hung tợn. Đó là thưởng
phạt cho đôi vợ chồng trong thời gian dưỡng dục kỳ
đầu.
Qua kỳ nhì, nếu làm được phúc đức, ăn ở nhân
từ, thì hột nguyên tử thuộc về bực nào thì nó sẽ phối
hợp với thai ra bực nấy. Khi sanh đứa nhỏ ra vui vẻ,
142 | Đỗ Thuần Hậu
quý báu và hiếu thảo hơn, để thưởng cho đôi vợ
chồng.
Hột nguyên tử nó phân thành giai cấp, thưởng
phạt vô chừng.
Linh hồn thuộc về thiêng liêng. Khi các bạn công
phu, trước mặt được thấy những đốm sáng gọi là hồn
thiêng liêng trí thức. Những người không công phu
luyện đạo thì không thể thấy được Hồn.
Còn Phách là do nơi tánh ý, thuộc về nguyên tử
của phụ nữ. Nó đi châu lưu bản thể, phía ngoài, cũng
có người gọi Phách là Hồn Thư.
Lấy một ví dụ:
Một người thắt họng tự tử, khi chết thì bàn chân
xuôi xuống, đào đất ngay chỗ hai bàn chân, ngay
ngón cái sẽ thấy một cục máu. Cục máu lâu ngày sẽ
phát triển thành một đóm lửa nhỏ, sáng như mặt
trăng hay như con đom đóm, bay vẩn vơ trên mặt
đất, gọi là Phách.
Phách, tánh, vía và ý thuộc một loại. Người ta
thường gọi là Hồn Thư. Khi người thắt họng treo
trên mặt đất ba, bốn tấc tây thì dưới đất có cục máu.
Còn nếu treo cổ trên cao thì không có máu, vì Phách
nương theo gió.
Các bạn nên để ý, tại sao gần đất thì có máu?
Còn xa thì không có máu? Là vì thể xác con người
liên đới với đất, lúc ấy khí nóng của đất mạnh hơn,
cho nên mới rút được máu của người chết. Máu là
thuộc về điển trong châu thân của con người.
Phép Xuất Hồn | 143
Chúng ta nên tầm xem Phách ở đâu?
Khi tay ta bắt tay người khác, thì người ấy biết
được tay của ta nóng hay lạnh. Thử tự ngắt lấy, thì ý
ta biết chỗ ấy đau. Khi có ánh sáng rọi đến bản thể
chúng ta thì cũng có một bóng đen cũng gọi là
Phách.
Phách là một thứ trí giác mà thôi. Còn Hồn thuộc
về trí tuệ hiểu sâu xa. Khi ta công phu luyện đạo
xuất hồn thì chỉ có đóm lửa hiện trước mặt. Nếu có
muốn đủ hình bóng thì phải dày công luyện tập, lâu
ngày Phách xuất khỏi bản thể phối hợp với Hồn mới
có đủ hình thể.
Khi được xuất hồn lên cao, thì hình bóng ta ngó
xuống bản thể ta. Tùy theo sự chịu khó của mỗi
người, tự ưng thuận công phu cho dày công thì sẽ
được xuất hồn đủ hình bóng và thông hiểu quá khứ
vị lai cùng được dạo Thiên cảnh.
Các bạn nên để ý, khi được xuất hồn thì phải mê,
trong đó có cái tỉnh, rồi ta thấy trên nê hườn (mỏ ác)
tê lạnh, rồi Hồn mới xuất được.
Lúc xuất hồn, bản thể của ta đang ngồi, nếu có
sự đụng chạm nhẹ thì không biết, còn con muỗi cắn
thì biết và vẫn nghe tiếng kêu của con vật.
Bản thể là một cơ cấu phối hợp ngũ hành cấp
bực, gọi là "Tiểu Thiên Địa" do nơi sự điều khiển hóa
sanh của ngũ hành tiên thiên. Chất nguyên tử tiên
thiên cũng là một chất nhớt hóa sanh xương và gân
144 | Đỗ Thuần Hậu
to, do sự phối hợp của nguyên tử tiên thiên và hậu
thiên kết thành ngũ tạng:
- Phổi thuộc kim hóa sanh nước (thủy).
- Gan thuộc mộc hóa sanh lửa (hỏa).
- Tim thuộc hỏa hóa sanh thổ.
- Bao tử thuộc thổ hóa sanh kim.
- Thận là trái cật chia ra làm hai bên thủy và hỏa
để điều khiển ngũ hành.
Trong ngũ hành, mọi chất đều có nguyên tử.
Nguyên tử là một thứ thanh khí hoạt động không
ngừng. Trong mỗi bản thể đều có vật chất là cái xác
làm trụ sở cho nguyên tử hoạt động, giao thiệp bên
trong và bên ngoài.
Tại sao người ta thường gọi là "Tiểu Thiên Địa"?
Phật là vũ trụ, cửa khiếu ngay xoáy óc, trung tim
bộ đầu ta, còn trời là ở trước trán ta. Còn mắt bên
trái gọi là mặt trời sáng đỏ lửa hồng. Mắt bên mặt
thuộc về mặt trăng. Hai con mắt khóc có nước chảy,
đó là trời mưa. Ghèn là mây khói. Khi ghèn lấp con
mắt thì ta thấy mắt mờ như sương giăng. Ngoài mặt
da có nhiều lỗ chân lông hóa mồ hôi sanh tuyết. Ngũ
tạng là năm vì sao gọi là hành tinh, tức là năm đóm
lửa. Máy cơ cấu tạo hóa điều khiển mọi mặt bên
trong và bên ngoài. Xương là một chất vôi, vôi là
một khí nóng là lửa. Còn gan là một chất nước nhớt
lỏng hợp thành gọi là nước. Máu là do nơi chất nước
và đất lọc thành châu lưu trong bản thể ta gọi là
điển. Xác thịt tất cả đều có khí điển bên trong và bên
Phép Xuất Hồn | 145
ngoài. Khi khí điển của năm khóm lửa tan mất thì
thể xác ta hết cử động, gọi là chết. Xác chết thuộc về
thổ hoàn nguyên cho đất.
Tìm hiểu điển hình của Trời Phật.
Khi Phật truyền Pháp Ấn có ba chấm gọi là tam
giác.
Điểm thứ nhất là một vị cao thượng, không thể
thấy được, là vì ta còn ở thế gian không được biết
Phật Trời, từng nào là cao thượng. Khi Phật Ngài
truyền ấn "Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn"
nghĩa là "Trên trời dưới đất có một mình ta" thế gian
hi hữu. Trong thế gian ai cũng có, với mấy câu chữ
cao xa đó, nhưng chúng ta không thể thấy được sự bí
ẩn của Trời Phật, thành thử buộc lòng phải nghiên
cứu để thấu đáo.
Phật ngài truyền ấn tam giác:
- Chấm thứ nhất gọi là Tinh.
- Chấm thứ nhì gọi là Khí.
- Chấm thứ ba gọi là Thần.
Tinh để làm việc cho vũ trụ. Khí để làm việc cho
ngũ hành. Thần để làm việc cho đất.
Lúc nguyên thể thì có Phật, Trời và Đất. Đất sanh
nhơn vật gọi là Thiên Địa Nhơn, Trời Đất Người.
Tôi xin nghiên cứu như dưới đây:
146 | Đỗ Thuần Hậu
Phân giai cấp nào cao và giai cấp nào thấp để mà
hiểu. Trước mặt ta có mặt trời mặt trăng là hai con
mắt, đó gọi là mặt trời. Còn trên xoáy của chúng ta,
ta không thể thấy được, gọi là vô cực cao thượng, đó
là Phật.
Ta là người ở thế gian, dòm thấy có mặt trời, mặt
trăng, sao và mây. Còn Phật thì ai thấy được, đó là
cao thượng. Bởi vậy người ta gọi là Phật, Trời, Người,
rồi sanh ra Đạo. Đạo là một con đường để thấu hiểu
trên trời dưới đất, cho nên ta vẽ một hình tam giác là
ấn của Phật ban hành như sau:
Phật chứng kiến và điều khiển Trời và ngũ hành:
BÊN TRÁI: BÊN MẶT:
Trời điều khiển ngũ hành
dưới trái đất thế gian, phối
hợp với ngũ hành trên
không.
Thế gian, người và vật.
Phép Xuất Hồn | 147
Con đường Đạo cũng là tam giác chia ra như sau:
Số 1 là linh hồn, tức là điển, xuống đâu? Xuống
số 2 là thế gian. Số 3 làm việc gì? Làm việc cực nhọc,
đổ mồ hôi xót con mắt, cạnh tranh phấn đấu, xong là
chết sẽ về thiên đàng, đây là tóm tắt của đường Đạo.
SỬA CHƠN SANG BƯỚC ĐƯỜNG ĐẠO
1. Đường đạo có chánh tâm, tu thân, khắc kỷ, phục
lễ.
2. Nhơn, nghĩa, lễ, trí, tín.
3. Sĩ, nông, công, thương.
Gồm tất cả có ba điểm giác:
1) GIÁC MINH: là minh triết, tức là một vị Phật,
minh mẫn sáng suốt, là người biết đạo.
2) GIÁC ĐẮC: là người còn đương công phu để
thấu hiểu nguồn cội của đạo, sự lành, sự dữ.
148 | Đỗ Thuần Hậu
Công phu cần làm "Pháp Luân Thường Chuyển"
để thanh lọc điển trược hóa thanh, trừ chứng bệnh
tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. Chúng ta công phu
bền bỉ nhờ pháp môn gọi là "Hỏa Luân Xa". Chúng ta
phải ráng làm "Pháp Luân Thường Chuyển" để năm
đóm lửa dang ra, thứ lửa hung bạo kêu là hỏa tặc.
3) GIÁC NGỘ: là người đã trau luyện và đã gặp
đạo, rõ đạo. Khi chúng ta công phu luyện đạo,
chuyển Pháp Luân cho mãnh liệt thì lửa hỏa tặc dang
ra, còn lại lửa thanh gọi là hỏa đức. Hỏa đức này gốc
từ trên mặt trời, mặt trăng xuống gọi là điển, cũng
gọi là nguyên tử nữa, làm cho chúng ta trở nên một
người lành, phản bổn hườn nguyên, y như lúc sơ
sanh. Từ đó tới sau, ta sẽ được sáng suốt, không sa
đọa lầm lỗi nữa gọi là giác ngộ.
Muốn cho được thấu đáo điểm thứ ba hơn, thì
hỏa đức là thiêng liêng.
Tâm hồn gồm tinh, khí, thần, còn Phách là hỏa
tặc, thứ nhì lấy cặn bã của mặt trời, mặt trăng cũng
là cặn bã của ngũ hành gọi là thất phách, là vía. Vía
là bóng hình.
Phép giải trí của đời đạo song tu, tôi để vào mục
này cho các bạn đạo khảo cứu cho được thêm sáng
suốt.
Phép Xuất Hồn | 149
PHƯƠNG PHÁP CÔNG PHU LUYỆN ĐẠO
Ban đêm, vào khoảng 12 giờ, tức là lúc âm dương
chia hai thời gian, phân nửa là ngày, cũng gọi là âm
dương hiệp phối, ta ngồi yên tĩnh để cho bản thể ta
được yên, gọi là tịnh tâm, xếp bằng, dòm xuống phía
dưới hai bắp vế thấy có ấn Phật tam giác, để ý từ đầu
gối lên đến rún là Tề Luân Hư Cảnh, nghĩa là bánh
xe làm cho phát điển. Trong rún xung quanh có bốn
điểm hợp với lỗ rún gọi là năm điểm, câu Phật nói là
"Tứ hải quy gia" nghĩa là bốn điểm hợp về một nhà là
vậy. Khi ta ngồi công phu thì bốn điểm ấy gom vào
rún, hóa ra năm thứ lửa ngũ hành, làm việc cho lục
căn phía dưới như ruột non, ruột già, bong bóng,
bọng đái, hai chân và bao tử (thuộc về đàn bà) và
bao dưỡng khí (thuộc về đàn ông).
Cái rún và bốn điểm gọi là ngũ hành, chia phân
nửa làm việc phía dưới, còn phân nửa giao tiếp trên
bao tử. Trên bao tử có lá lách hoi hóp, phèo, mật hợp
với bao tử làm việc. Trong bao tử này có một phần
để vận động xuống tiếp cho huỳnh đình hạ thừa.
Huỳnh đình là một chỗ gom ngũ hành để làm
việc cho hai chân và chỗ dưỡng khí đàn bà nằm dựa
trên trái cật, kêu là củ khun, còn đàn ông thì nằm tại
chỗ dương đạo (dương vật) phía trong ngay bao
dưỡng khí là đùm trứng dái. Bao tử làm việc hoạt
động tiêu hóa, phát triển ngũ hành lên ngũ tạng.
Ngũ tạng là trái tim, lá gan, với bao tử, lá phổi và
150 | Đỗ Thuần Hậu
trái cật. Trong bao tử có hai cái vòi: một cái ngay để
làm việc khí điển phối hợp lên trên, còn một cái nữa
giao tiếp với huỳnh đình hạ thừa là phổi cùng cái cật
mặt, và cái cật trái, hợp với thượng huỳnh đình.
Thượng huỳnh đình là óc, hai con mắt, lỗ mũi, cái
miệng và hai lỗ tai là lục căn lục trần trong bản thể
ta chia ra làm hai: vũ trụ là xương sống làm chủ
phần hồn, ngay giữa xương sống chỗ dính đùm ngũ
tạng gọi là hiệp tích, chỗ ấy hồn ở, còn óc là chỗ để
cho hồn làm việc.
Kể về lục căn lục trần, phía bên trái gọi là tả
bành chất, phía bên mặt gọi là hữu bành cư, lục căn
phân nửa bộ đầu bên trái gọi là lục căn của thất
phách trên tiên thiên hợp với khí trung giới gọi là
nguyên tử của tiên thiên mặt trời, còn lục trần lấy
ngũ hành nơi mặt đất hợp với mặt trăng.
Đầu, tay, chân phối hợp với bản thể, mỗi thứ có
hai thứ khí phách âm và dương để phối hợp với tiên
thiên. Khí phách này tuy là phân hai bên, nhưng khi
làm việc thì hợp lại để trao đổi, như khí phách bên
trái tả bành chất là bóng trước mặt mình phải mượn
hữu bành cư là bóng sau lưng để làm việc, khi rắc rối
hữu sự, báo cáo cho linh hồn được hiểu để tránh
nạn.
Phép Xuất Hồn | 151
Nói về SOI HỒN, là làm cho điển lửa được thông.
Điển thông là hồn sáng suốt, sẽ được thấy.
Hồn tập trung chỗ ngay giữa hai chân mày gọi là
tâm linh, chỗ ấy có ổ váng nhện màu trắng láng ở
ngoài mặt xương, bên ngoài là da. Nếu lấy tay vỗ
mạnh trước trán thì ta sẽ thấy tá hỏa tam tinh, lửa
xẹt ra hết hồn. Chỗ này hồn gom lại đó để làm việc
cho tiên thiên. Hai bên màng tang có hai cái gân chia
đôi từ lỗ tai lên tới đầu, còn một nhánh gân nữa quẹo
xuống màng tang đi ngang qua chân mày thẳng đến
ổ váng nhện. Từ bên tả chuyển qua đến bên hữu,
gân ấy được tẻ ra, một phần nửa đi xuống mí con
mắt, chạy xuống bên cạnh lỗ mũi ăn xung quanh
miệng, rồi tẻ một đường gân nữa ăn chuyền đến ót.
Ngay giữa xương sống, nơi cổ có một điểm ngay giữa
ăn ngay vào lỗ tủy xương sống gọi là giáp cốt. Chỗ
giáp cốt trống hơn các khớp xương sống. Điển chạy
theo gân một đường thẳng rẵng hai bên xương sống,
xuống tới xương khu. Còn một đường nữa ăn chỗ
khớp xương giáp cốt vô trong, tiếp cho đường mạch
đốc phía trong. Hai bên xương sống phía trong có
một đường dính ép vô, màu trắng, cũng như gân,
nhưng ít dẻo hơn, ăn xuống hai trái cật để tiếp lửa
điển, rồi nhóm điển qua huyệt Tề Luân Hư Cảnh. Tề
Luân Hư Cảnh có nhiều thứ gân ở ngoài da bụng
chạy cả bản thể ta. Chỗ nào có gân thì đều có khí
lỏng chạy theo. Khí lỏng để lọc máu và dắt máu chạy
châu lưu trong thân thể. Thứ máu ở dưới Hạ Huỳnh
152 | Đỗ Thuần Hậu
Đình là máu cặn bã đỏ nhiều. Còn phía trên Trung
Thượng Huỳnh Đình thì máu trong gọi là thanh khí
lửa điển, rồi từ trung khí cũng phải lọc một thứ máu
thanh hơn nữa chạy thẳng lên Cửu Khiếu. Bởi thế ta
lấy ngón cái bịt vào lỗ tai cho kín làm cho điển
ngưng, rồi lấy ngón giữa chận vào khớp xương vành
con mắt, kéo chằn nhè nhẹ, còn ngón tay trỏ để chận
nhẹ chỗ đường gân chia đôi nơi màng tang gần mái
tóc, thì điển ấy không chạy trong mấy đường chận,
phải phát tung lên cửa khiếu tức là xoáy. Khí điển từ
xoáy chạy ngay chính giữa trước trán, điển bắt buộc
hỏa luân xa trước trán xoay chuyển làm cho lửa
nháng ra. Ban đầu chúng ta thấy lờ mờ như mây sao
qua lại, bay xung quanh trước mắt.
Sau khi Soi Hồn, hai bàn tay mặt trái âm dương
cặp nhau trên dưới là năm ngón tay, hai bên cùi chỏ
kẹp hông lại, rồi làm "Pháp Luân Thường Chuyển".
Ngồi xếp bằng, nhắm con mắt, dưỡng tâm ngồi
yên, ý tịnh, không suy nghĩ gì hết, chót lưỡi co lên
chân răng để làm cho chất lỏng là máu nước chạy lên
chân răng, tạo ra một thứ nước miếng để cho khỏi
khô cổ và lọc cho nước mặn trong bản thể được
thanh và trở nên ngọt. Ngậm miệng cắn răng nhẹ
nhẹ để làm cho mấy huyệt gân toàn thể phải ứng
phó, cử động theo điển khi có lịnh.
Lịnh là hít hơi vào động hết gọi là lịnh. Lúc ấy ta
hít hơi bằng lỗ mũi, nhẹ từ từ đem xuống tới hạ
thừa, rồi hít luôn thì hơi ấy tiếp tục tràn lên đến
Phép Xuất Hồn | 153
cuống họng động tới cuống vị truyền bá cho phổi và
gan, trái tim, bao tử, trái cật xoay chuyển mạnh để
vào hiệp tích, chỗ mạch đốc. Mạch đốc truyền bá cho
mỗi gân đồng đều xoay chuyển, các điển châu lưu
thân thể tiếp lên cửa khiếu truyền bá cho điển chạy
xuống huyệt luân xa là ổ váng nhện.
Khi làm Pháp Luân Thường Chuyển xong rồi thì
tới Thiền Định. Cũng ngồi công phu như thường,
nhắm mắt, ý dỗ ngủ. Lúc đó sẽ phát mê, một hồi lâu
thì trong cái mê có cái tỉnh. Các bạn cố gắng công
phu sẽ được phát điển như đèn pile.
Lời của cụ ĐỖ THUẦN HẬU: "Tài liệu này để cho
các bạn nghiên cứu, không phải để cho các bạn tin."
154 | Đỗ Thuần Hậu
Lời Tường Thuật
của Thiền Sư Lương Sĩ Hằng – Vĩ Kiên
Sàigòn, ngày 15 tháng 7 năm Mậu Tuất
( 1 9 5 8 )
Hôm nay là ngày Lễ Trung Ngươn, tôi rất lấy làm
hân hạnh được ông Tư cho phép tôi tham gia cuộc tề
tựu này để cúng Phật và là một cơ hội mà tôi được
trực tiếp cùng quý bạn để học hỏi thêm trên đường
đời cũng như đường đạo.
Tôi thường được nghe những lời khen ngợi vui
lành của ông Tư, cho tôi hay sự tiến triển của quý
bạn, mỗi khi tôi đến hầu ông Tư. Do sự cố gắng tiến
triển của quý bạn, đã ảnh hưởng cho tôi một phần
lớn lao và đã đem lại cho tôi một luồng điển mạnh
mẽ, thăng tiến, kiên cố và tự sửa chữa để tìm hiểu
đạo lý thiêng liêng.
Tôi không biết lấy gì đền đáp những sự dìu dắt
thành thật với những lời vàng ngọc của ông Tư đã
ban cho tôi lúc nào tôi thắc mắc.
Muốn khỏi phụ lòng ông Tư tôi xin quý bạn cho
tôi được tường thuật những sự hiệu quả mà tôi đã
thâu lượm được trong thời gian học hỏi ngắn ngủi
vừa đã qua.
Phép Xuất Hồn | 155
Tôi muốn được biết sự đồng ý của quý bạn trước
khi tường thuật:
1) Xin quý bạn mở nụ cười tượng trưng hoa sen
để kính Phật.
2) Tôi xin cầu nguyện Phật ban nhiều điển lành
cho ông Tư và chúng ta được sáng suốt thêm để
phụng sự bản thân, đạo lý và nhân loại.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Do đâu mà tôi được quen với ông Tư? Tôi nhờ
ông bạn tôi tên là Phụng thường đến thăm tôi và nói
nhiều đạo lý cho tôi được biết, lâu lâu có đề cập đến
ông Tư nhưng trong lúc ấy tôi không để ý về những
sự huyền bí thiêng liêng vì tôi còn trong vòng mê
trần, ham mèo mỡ, ăn nhậu, có tánh tự tôn, chỉ nghĩ
về tiền, nếu có tiền thì mọi việc đều xong.
Đến tháng giêng đầu năm nay, tôi có một người
bạn, có một đứa con gái bị bệnh 13 năm nay, chỉ nói
xàm không làm được việc gì để giúp đỡ gia đình cả,
ông bạn tôi làm bao nhiêu tiền cũng không đủ chữa
bệnh cho con. Nhưng bệnh nặng nhất là đầu năm
nay, ông bạn tôi đến cho tôi hay. Tôi đến nhờ ông
Phụng đưa tôi đến gặp ông Tư để yêu cầu ông Tư
cho phép đem người bệnh đến nhà nhờ ông chữa.
Ông Tư đồng ý, hôm ấy tôi được cơ hội nói chuyện
với ông Tư gần ba giờ đồng hồ, nhưng ruốt cuộc tôi
cũng không hiểu gì về đạo. Đến sáng hôm sau, tôi
156 | Đỗ Thuần Hậu
đem bệnh nhân đến. Ông Tư vui vẻ xem bệnh và cho
hay: "cô em này hợp với một bạn ma gái". Ông cho
bùa và thuốc uống. Ông khuyên hồn ma đi tu,
khuyên liên tiếp một hồi thấy bệnh nhân bớt nói và
xin ông cho ở lại không chịu đi về. Ông rất nhẫn nại
khuyên tiếp một hồi, cô ấy miễn cưỡng ra về. Uống
bùa và thuốc đầu đuôi trong vòng mười ngày cô ấy
khỏi bệnh. Sau khi hết bệnh ông Tư bảo mua chút ít
đồ cúng hồn ma ăn, kẻ khuất mặt và người bệnh
đồng đi tu. Đến bữa cúng tôi cũng có mặt tại nhà
ông Tư, trong lúc cúng, ông Tư nói chuyện với hồn
ma. Tôi tự cười thầm và nói trong thâm tâm, ma đâu
có thấy mà nghe ông này nói chuyện hình như có
người đang hầu ông. Một chuyện thật là lạ đối với
tôi, không tốn bao nhiêu tiền mà đã có thể chữa
được một bệnh lâu năm.
Tôi về suy nghĩ và thuật lại cho hai người bạn tôi
tên là Tỵ và Chanh, hai ông này không tin bảo tôi
đưa đi gặp ông Tư. Chúng tôi hỏi đủ điều, ông Tư rất
bình tĩnh trả lời với một cách rất hợp lý. Ông Tỵ nhờ
ông Tư xuất hồn đi Hải Phòng, Tourane, và Chợ Lớn
xem nhà cửa ra sao? Không mấy phút ông Tư nhắm
mắt một hồi rồi trả lời đầy đủ. Ông Tỵ hỏi ông Tư có
phải Phật hay là Tiên.
Ông Tư nói:
"Tôi không khác gì quý ông."
Chúng tôi tiếp:
Phép Xuất Hồn | 157
"Ông có thể truyền đạo lại cho chúng tôi được
không?"
Ông Tư nói:
"Tôi luôn luôn sẵn lòng nếu quý ông muốn tu."
Ba anh em chúng tôi ra về và nói chúng mình sẽ
tìm một hôm đến xin ông truyền đạo.
Chúng tôi suy nghĩ chín chắn, chúng tôi đồng
đến xin nhập môn. Ông Tư chỉ phép Soi Hồn và Pháp
Luân Thường Chuyển với hai câu nguyện.
Tôi tự nhận hiểu đây là phương pháp luyện nội
công rất có ích cho thân thể.
Đêm đầu tôi khởi sự thở è ạch, nghe nói dễ
nhưng mà khó, mỗi đêm mỗi tập trong tâm trí tôi rất
nhiều chuyện, ngứa tất cả châu thân, tôi đến hầu
ông Tư để tìm cách tẩy trừ những trở lực đưa đến
mỗi đêm khi tôi ngồi tịnh. Ông Tư bảo cứ cương
quyết tập trung tâm trí theo Phật thì mọi việc sẽ tiêu
tan. Tôi tiếp tục cố gắng làm theo lời chỉ bảo, quả
thật không lâu những sự rắc rối kể trên không còn
nữa, đúng thời hạn ba tháng tôi thấy trong người
khỏe nhiều, đi đứng nhẹ nhàng.
Tự cướp lại được nền kinh tế vững chắc như sau:
1. Không ham chơi bời.
2. Không hút thuốc lá thay vì mỗi ngày phải ba gói.
3. Không thích ăn thịt, thích ăn chay.
4. Không gây lộn với vợ.
5. Không phách lối, khinh ghét ai cả.
158 | Đỗ Thuần Hậu
6. Không dùng một giọt rượu.
7. Hết đau lưng và tim hết hồi hộp.
8. Tự nhìn nhận tất cả những tội lỗi đi lạc đàng từ
ngày ra xã hội đến nay.
Tâm trí sáng suốt minh xét bất cứ một trở lực
nào xảy đến, tôi tự xét rằng trở lực là một cơ hội tốt
đẹp cho sự tu luyện, tu trong thời loạn hơn là lúc
thái bình.
Rồi từ từ tôi đi đến chỗ định tâm, tự vào trong
tiệm nước hay rạp hát ngồi yên mở mắt tịnh thì
không nghe ai nói gì cả, thấy trong thâm tâm mát
mẻ như có một thanh khí đặc biệt. Những tài tử trên
màn ảnh hình như không phương pháp nào lôi cuốn
tâm trí của tôi trong lúc tôi tịnh.
Sự thấy lúc công phu ban đêm:
Ba tháng đầu thấy những giọt sáng như mây,
xương sống nghe giựt cụp cụp.
Ba tháng sau thấy có những cảnh lạ trước mắt
nhưng xa, sau khi công phu nằm xuống có khi điển
giựt, biết trước nhưng không thể cản trở được, có
đêm 5 tới 6 lần. Điển giựt đến đêm chót tôi thấy
xuất ra một bóng đen định trở lại đấm tôi, tôi vẫn
niệm Phật, không lâu tôi mở mắt thấy trước mặt tôi
hiện ra một vị Phật đang tham thiền, phong cảnh rất
ngoạn mục, tôi tập trung tư tưởng theo Đức Phật,
thơ thới trong thâm tâm, lúc hình Phật xa dần dần
thì bóng đen cũng biến mất luôn.
Phép Xuất Hồn | 159
Qua hôm sau mắt tôi trông thấy vạn vật đều rõ
rệt. Linh tính sáng suốt, nhiều khi nghi là có. Mỗi
đêm ngồi ít nhất là một giờ. Rất nhiều đặc điểm
chưa minh xét được, tôi xin hứa cùng quý bạn tôi sẽ
đăng ký những gì tôi sẽ thấy rõ rệt, hầu góp thêm
phần kiến thức kỳ tới.
Hôm nay là ngày rằm tháng giêng năm Tân
Sửu(1961), đầu năm đang đón mừng với tánh cách
xây dựng và thử thách.
Năm con chuột đi con trâu lại trở về, tôi vẫn được
cơ hội tiếp tục việc tu hành, lần lượt theo dõi con
đường gay go mà ông Tư đã cố gắng xông pha và tìm
kiếm để đem lại sự hữu ích và thực tế cho chúng ta
về đời, cũng như về đạo.
Cuộc đời lao lý của người đã vượt qua và đang
tiến, luôn luôn ở trong thực hành. Chúng ta vẫn
được gần một người bạn đứng tuổi, do Trời Phật đã
ban cho chúng ta một ảnh hưởng lớn lao đang đối
diện trong trí óc của chúng ta. Chỉ chờ nơi sự cố
gắng của chúng ta hầu sớm kết tập một con đường
chơn đạo vô vi. Tôi xin trân trọng thuyết trình cùng
quý bạn về đường lối của Pháp lý mà ông Tư đã dìu
dắt tôi trong một thời gian là ba năm. Giai đoạn đầu
được huấn luyện sau sáu tháng tôi đã tường thuật và
ký lục vào ngày 15 tháng 7 năm Mậu Tuất(1958).
160 | Đỗ Thuần Hậu
Từ ngày ấy đến giờ, tôi không có lúc nào lãng phí
thì giờ tu luyện, dù tôi đang đứng trong hoàn cảnh
khó khăn về vật chất, vì sau sáu tháng tôi đã được
nhận thấy việc đời là tự sanh và tự diệt đó thôi. Còn
về phần đạo thì luôn luôn ẩn núp ở bên trong chính
mỗi người đều có. Một cơ cấu nước lửa gió đất đã kết
thành một hình thù duyên dáng ở bên ngoài, với
những thứ riêng kết tập ở bên trong. Mọi sự giản
tiện và phức tạp đều giao phó cho chúng ta, và
chúng ta phải tự điều khiển lấy, với một ý chí cương
quyết hay là lãng phí đó thôi.
Còn về con đường tầm đạo tu hành, thì cũng phải
thực tập và tự tầm điển kinh, sắc bất dị không,
không bất dị sắc, trong cái có nó có cái không, mà
trong cái không nó lại có cái có. Vậy ai đã làm chủ
cái có và cái không? Người tu hành có điển thì có thể
hiểu rất rõ rệt và khoan khoái với một con đường
điển quang thâm thúy luyến ái của Trời Phật. Mùi vị
thiêng liêng đã đem lại cho mọi người tự nhận thấy
sự tự do phát triển vô bờ bến, tùy nơi sự khắc phục
của mọi người.
Tôi tu đến ngày nay tôi tự nhận thấy hơi thở của
tôi thâu và phóng nơi bộ phận đầu nhiều hơn là
bụng, không biết lo là cái gì. Tiếng nói rất nhẹ nhàng
và lanh lẹ hơn trước. Trên đầu của tôi lúc nào cũng
sáng, nhắm mắt lại càng sáng hơn và thấy lần lần
phóng lên không trung, nhiều khi được thấy rất
nhiều cảnh và được nghe rất nhiều. Nhưng thấy rồi
Phép Xuất Hồn | 161
lại quên và nghe cũng vậy. Gặp cái gì cần nói đến là
nói rất thông chứ không cần suy nghĩ mệt trí như
trước nữa, có thể hiểu được tánh tình của người đối
diện, lắm lúc tôi nói ra cứ sợ mình nói bậy, vì tôi
không phải là thầy tướng, có nhiều bạn nhờ tôi đoán
việc này việc nọ, tôi nói ẩu, họ cũng cho là trúng, tôi
nhận thấy con người của tôi càng ngày càng khác.
Hằng ngày niệm Nam Mô A Di Đà Phật, được biết
rõ rệt sáu chữ đó, chạy trên bộ đầu và được nghe
khớp xương mở, trên đầu sáng và mát mẻ. Ban ngày
cũng như ban đêm lắm lúc tôi tự nhận thấy hình như
tôi không còn ở nhà, tâm hồn vơ vẩn trên không
trung. Trong lúc nói chuyện hay viết thơ về đạo thì
tôi được một thanh khí mát mẻ sáng sủa trên bộ đầu
và tôi tự cảm giác rất nhẹ nhàng.
Mỗi đêm công phu đều được phóng đi xa, luồng
điển từ từ xuất ra ngay sống mũi giữa hai chân mày
rồi đưa thẳng lên không trung, cứ lên mãi cho đến
lúc mê và tê lạnh cả mỏ ác. Đến lúc tôi hồi điển tỉnh
lại và muốn tiếp tục công phu thì bộ đầu giựt run
phải đi ngủ một chập mới có thể công phu trở lại
được. Lúc này tôi công phu không nhất định, đến giờ
chỉ định thì bộ đầu tôi sáng như đèn manchon.
Không sao ngủ được tự động phải thức dậy công
phu. Muốn làm biếng cũng không được.
Bổ đồng mỗi đêm cũng được hai giờ đồng hồ, khi
nhắm mắt ngủ cũng như khi công phu, thấy đi đây đi
đó không có lúc nào rảnh cả.
162 | Đỗ Thuần Hậu
Đến đây có thể nói tôi đã ghi thêm được một
chấm trong con đường tu hành thực tập.
Mọi sự khó khăn cũng đều đòi hỏi nơi thực hành,
ước mong được sự thông cảm của quý bạn và tôi
nguyện sẽ theo dõi quý bạn cũng như quý bạn đã
hòa lẫn tình đạo hữu với tôi.
Thành thật kính chào quý bạn và chúc quý bạn
vui tiến.
Kính bái,
Lương Sĩ Hằng
Phép Xuất Hồn | 163
Sàigòn , ngày 18 tháng 5 năm 1968
Tu hành vui thú triền miên
Đệ nay xin thuật lại miền thiêng liêng
Xuất hồn đảnh lễ Sư Ông
Vượt qua Bỉ Ngạn lòng không thấy lòng
Nhẹ như thể tuyết lông hồng
Giao du thắng cảnh vui Bồng Lai Tiên
Đánh tan mất cả ưu phiền
Tu hành cởi mở điển liền xuất theo
Từ nay hết sợ cảnh nghèo
Đường ta ta tiến chẳng theo thuyết tà
Chúc cho các bạn phân qua
Tìm đường tự tiến mới là quang vinh
Đệ nay tận lý thuyết trình
Tự tu tự tiến mở tình Thiên cơ
Kính bái,
Lương Sĩ Hằng
Phép Xuất Hồn | 165
| 167
Mơ Duyên Quái Mộng
168 | Đỗ Thuần Hậu
Mơ Duyên Quái Mộng | 169
HỒI THỨ NHẤT
Một hôm, giấc điệp mơ màng vào khoảng hai giờ
khuya, Hoàng cảm thấy còn vơ vẩn bên cảnh trời
Nam. Khi ánh nắng rọi vào cửa sổ, mặt nóng bức khó
chịu, Hoàng giựt mình thức giấc, đồng hồ vừa điểm
bảy tiếng. Hoàng thở dài để trút sự lo âu cho thư thả
tâm trí. Hoàng nhìn bình minh, chim chúc mừng
buổi sáng như khúc nhạc tiên đưa người lưu luyến
lên đường về.
Đến tám giờ, Hoàng từ giã gia đình trở về đô thị,
tung bay về phương trời xa, vui với bao kỷ niệm, bao
sắc đẹp. Trước hình tượng đôi mắt đượm đầy đau
khổ mà Hoàng đang mơ tưởng, bỗng nhiên có bóng
một thiếu nữ xinh đẹp gọi chàng để hỏi thăm.
Hoàng giựt mình quay lại ngạc nhiên hỏi:
_ Cô ở đâu mà biết tôi thế?
Hoàng vừa hỏi, cô gái ấy lẹ miệng trả lời:
_ Xin anh tha lỗi cho em, vì em vô lễ phá tan
mộng đẹp của anh để kéo anh về hiện tại. Nhơn dịp
muốn tỏ cùng anh vài câu chuyện. Có lẽ anh lấy làm
lạ sao em bướng bỉnh thế? Nhưng ban đầu còn lạ,
nhưng sau không còn xa lạ nữa đâu anh. Anh tha
thứ cho em nhé!
_ Xin lỗi cô ở đâu?
_ Anh quên à! Thưa anh, em đồng hương với
anh. Trước kia em đi một góc trời Nam đã gặp anh,
170 | Đỗ Thuần Hậu
giữa một hòn đảo. Chỗ ấy có một cây cầu, dòng nước
chảy quanh. Trong lúc ấy bão to gió lớn, lúc em từ
giã anh, chúng ta đồng cách biệt, anh thì đi lập
tương lai, còn em thì giao du bốn phương trời.
Hoàng thốt lời tặng:
_ Cô thật là dõng mãnh phi thường, tài gái chẳng
kém gì tài trai, chẳng khác nào "Chí quân tử cửu
châu lập nghiệp, đại trượng phu tứ hải vi gia."
Hoàng vừa dứt lời, cô gái ấy tiếp:
_ Nam nữ tương đồng, em cũng buồn cuộc đời dở
dang, mơ duyên ngắm cảnh buồn tủi cho đến đỗi em
cầu cứu Quan Âm Bồ Tát. Đức Quan Âm cho rằng:
"Bạn lành cõi trời, mỗi vị có tiền căn bởi thế thôi".
Rồi Đức Quan Âm xé quạt hai lần, hồn em về với xác
thân, nỗi khổ của xác thân không thể tả. Ngày tháng
trôi qua, đời anh và em thay đổi mãi. Còn em thì vẫn
giữ căn duyên tiền định, vơ vẩn một tấm lòng son,
không người an ủi, tủi số phận, trung chính tam
tùng giữ vẹn, nhưng anh thì đã quên em rồi! Em vẫn
còn nhớ hình anh mãi mãi. Hôm nay được dịp gặp
anh, mà anh vội trở về quê hương, còn em thì phải
bận đi thăm bạn em.
_ Xin lỗi cô, cô tên chi? Tôi đã quên mất cả hình
bóng cô. Tôi lắm lời xin cô tha thứ cho.
_ Đúng ra, anh tha lỗi cho em thì phải hơn vì em
đã phá vỡ cuộc mơ mộng thần tiên của anh kia mà,
chớ anh có lỗi chi mà bảo em tha thứ cho anh. Đời
anh thay đổi, đời em cũng bị ngộ việc, quên nhau là
Mơ Duyên Quái Mộng | 171
dĩ nhiên anh à. Em nói tên thì anh không lạ gì em cả,
và còn vui thảo luận nữa.
_ Em cứ nói đi có gì đâu mà em rụt rè thế! Đừng
để anh mong mỏi.
_ Thưa anh, em tên là Ánh Nguyệt.
_ Em là Ánh Nguyệt à? Trời ơi, sao em thay đổi
nhiều, thành thử anh quên mất. Nếu em không nhớ
anh mà nhắc, có lẽ anh quên em. Em thứ lỗi cho anh
nhá. Tuy đời anh đã xa quê hương, xa cõi lòng em,
để dồi mài tinh thần gắn bó tương lai hầu sau tìm
con đường tốt đẹp vinh quang hơn, nhưng hình bóng
anh không phai mờ nơi tâm hồn và trí tuệ của em,
vẫn mong đợi người, anh dồi mài trí hóa ấy để khi về
quê hương được toại nguyện lòng em. Nhưng không
biết mức đường đi sẽ kết quả tốt đẹp thế nào, toại
nguyện hay sẽ tan rã giữa đường với bão tố trong
lòng, em ạ!
Bấy lâu xa em, anh đâu được rõ lòng em, giờ đây
anh tạm hiểu nơi con tim của em đã từng rung động
với đời anh. Em sẽ sống với cuộc đời hiện tại, rồi thời
gian sẽ đưa đến cho em những gì tốt đẹp và kết quả
thỏa mãn lòng em, em hãy nghĩ lại, mình cùng đời
đấu tranh được bao việc chát đắng chua cay. Vẽ rõ
như con thuyền bị lênh đênh giữa bể cả, thuyền ấy
tay lèo tay lái chưa vững, chưa chắc là thuyền được
bình an, vui thú, thanh nhàn hạp theo lòng dạ của
mình.
172 | Đỗ Thuần Hậu
_ Thưa anh thế à! Anh cho em hiểu chớ em là
Ánh Nguyệt chưa được rõ nơi ấy...
Hoàng tiếp:
_ Em đã nhớ nơi bờ sông Bỉ Ngạn. Thật em mong
mỏi, có lẽ là chỗ thích hợp cõi lòng của chúng ta.
Ánh Nguyệt cười cho là chỗ nhứt định tỉnh trí an
lòng, nhưng cũng ứa nước mắt khóc buồn tủi phận
trung trinh không người an ủi.
Khi Hoàng giựt mình thức dậy, suy nghĩ biết
mình chiêm bao, trong đêm nay chiêm bao rất dài có
ý mơ duyên là phải, có lẽ gì chiêm bao suốt đêm, đâu
có lý.
Khi Hoàng nghĩ xong, kế bữa cơm sớm mai, ăn
rồi là đúng trưa, an nghỉ cũng thấy mơ mộng bầu
trời quang đãng. Hoàng nằm trên ghế bố thấy mây
sa trước mặt, có bóng cô Ánh Nguyệt bước đến chào,
Hoàng chào hỏi lại:
_ Sao em biết ở đây mà đến?
_ Bao la vũ trụ, chỗ nào là không biết. Khi trước
vén mây mờ ám còn được biết, nay rõ căn lại chẳng
biết nữa à?
Hoàng ngớ ngẩn ngó cô rồi nói:
_ Đã 216 năm mới gặp lần thứ hai, thời gian qua
hai đời con người sao cô nương còn sống?
Để trả lời nhiều câu ngớ ngẩn quá, mà Hoàng
không thấu hiểu được, Hoàng cho rằng, hay là ma
quỷ đến đây để nhiễu hại giấc mơ của ta?
_ Thôi cô nương chớ buông lời hóm hỉnh nữa.
Mơ Duyên Quái Mộng | 173
_ Ánh Nguyệt là em đây! Thật không một ai dám
làm một con yêu phá đời vẻ vang của anh đâu. Đây
là duyên xưa nghĩa cũ, em đến đây để tiếp chuyện
cùng anh. Số là trong lúc buồn thảm, thương mây
nhớ gió, không người an ủi trong cuộc đời buồn thảm
của em, nhờ đó em được tu tâm dưỡng tánh quyết bỏ
cõi phàm. Em được Đức Quan Âm dạy bảo, nơi anh
bắt tay em lúc đó, Ơn Trên đã định cho chúng ta.
Gốc anh là Sao Mai còn em là Sao Hôm, nên căn kiếp
trắc trở hơ hỏng, để làm tròn bổn phận số kiếp của
con người cùng duyên nợ. Anh cùng em đều đày đọa
lao tâm nhọc trí, chúng ta phải làm việc bổn phận
mới được chứng quả. Vậy anh nhớ chưa? Nghi ngại
chi cho mệt, để trí dưỡng nhàn tốt hơn nghĩ ngợi.
Anh cùng em chung sống trong bầu không khí mát
mẻ, non tiên. Chúng ta khỏi nguôi lòng dạ nữa.
Nàng lau nước mắt khẽ nói:
_ Anh ơi, em đã nghĩ kỹ lắm rồi anh à. Đời em chỉ
có anh an ủi em và xây mộng kết quả đời em. Nếu
em không được toại nguyện thì đời em sẽ đau khổ,
buồn tủi mỏi mòn. Nay ánh hồng rực rỡ, nếu anh
phụ bạc lòng em thì em sẽ bay theo luồng gió mà từ
giã cuộc đời dĩ vãng của em.
Lúc ấy cô Tiên lau mắt tung bay lướt gió.
Hoàng thức giấc thấy núi non chớn chở, bầy chim
ríu rít bay đi kiếm ăn. Hoàng ngó một hồi, ngồi lại
suy nghĩ, nửa tỉnh nửa say.
174 | Đỗ Thuần Hậu
Lúc này Ánh Nguyệt hiện nguyên hình đứng
trước mặt gọi:
_ Anh Hoàng yêu dấu!
Hoàng nắm chặt tay nàng, nàng nói tiếp:
_ Đây là người yêu của em, phải nhìn kỹ để gợi
lòng mến yêu nhau. Nếu ngày nào ánh hồng rực rỡ,
anh ráng gợi lòng nhớ em nhé!
Hoàng hỏi tiếp :
_ Sao em lại khóc? Em hãy bình tĩnh đi, để tìm
con đường hạnh phúc. Em chỉ là đóa hoa còn tươi
đẹp, còn trinh bạch, mùi hương bát ngát, hạnh phúc
còn dài sao em vội vã thế? Về hoàn cảnh của anh
đâu khác gì hoàn cảnh của em. Anh còn đang chờ
một kết quả tươi đẹp về ánh hồng cho thỏa lòng
mong mỏi của anh, nhưng nhờ Thiên Đình định đoạt
em à!
_ Anh ơi! Em phải mòn mỏi chờ anh, như vậy đời
em hết rồi, còn chi là hạnh phúc. Đã mong ước ngày
lẫn đêm, nhưng anh phụ bạc lòng em, lãnh đạm với
em, sẽ khổ cho đời em, em sẽ chết vì tình cảnh anh
à! Chết để khuất lòng anh, vì em không xứng đáng là
nàng Tiên của anh — Hôm nay là một buổi đầu tiên,
mối tình em mong mỏi đợi chờ theo ngày tháng cứ
trôi qua mãi — Nay bị dông gió bão bùng, xé tan bầu
không khí của trời êm bể lặng. Sau đây em sẽ đi thật
xa, em phải chết cho lòng dạ khỏi buồn tủi một kiếp
hoa mơ. Em chúc anh có người yêu xứng đáng hơn
em. Còn em là phận gái xấu xí nghèo nàn, duyên
Mơ Duyên Quái Mộng | 175
phai tình lợt. Người em bạc phúc này đâu phải nàng
Tiên yêu mến của anh mong ước thuở giờ.
Hoàng buồn tiếp lại:
_ Thôi! em hãy nín đi, anh sẽ yêu em, yêu trọn
đời. Anh không phụ bạc em, em vẫn là nàng Tiên
trong cõi lòng anh, chớ nào phải cô gái phàm tục mà
em bảo thế! Em hãy vui lên để cho lòng anh vui lây
với em. Anh sẽ vì em. Anh đau khổ quá nhiều rồi em
à. Em đừng buồn nữa, vậy em mới sống gần anh
được.
Hoàng than vãn ít lời thì trời đã bình minh. Nàng
Tiên từ giã. Hoàng kéo nàng nằm trong lòng, tai
nghe lá lào xào gió cuốn mây bay. Hoàng ngó lại chợt
thấy bóng nàng chun vào bụng biến mất.
Hoàng tỉnh giấc lại, suy nghĩ một hồi rồi than
rằng:
"Duyên chi duyên khéo gọi duyên là
Ngồi ngẫm một mình ta với ta
Trổi gót nàng Tiên đâu biến mất
Ước mơ sum họp ở chung nhà.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Nhắn nhủ đôi lời chớ phụ ta!"
Qua hôm sau, bóng hoàng hôn vừa khuất, thấy có
bóng người đến trước mặt gọi:
_ Anh Hoàng!
Hoàng thấy nàng cầm hai trái đào mời chàng:
176 | Đỗ Thuần Hậu
_ Anh dùng đi, mùi nó thơm và ngon ngọt. Anh
dùng trong một giờ vẫn thơm.
Hoàng hỏi:
_ Cô nương ở đâu mà có?
Ánh Nguyệt chúm chím cười;
_ Đào này trồng 218 năm mới kết quả, trồng tại
Huê Viên Thánh Mẫu. Em đến thăm Thánh Mẫu
đảnh lễ bà, bà trọng thưởng.
Hoàng gật đầu.
_ Thật phúc đức mới được bà trọng thưởng, nay
em cho anh à?
Hoàng dùng đào thấy thơm, Hoàng nói:
_ Em dùng với anh.
Ánh Nguyệt cười và nói:
_ Đã cho còn mời nữa.
Hoàng cười:
_ Đó là lễ nghĩa đối với em cho vui, đồng ăn,
đồng sống chung cuộc đời em ạ.
Ánh Nguyệt mỉm cười tiếp:
_ Anh thấy gì chưa?
Hoàng hững hờ:
_ Em mời anh dùng thì anh dùng chớ thấy chi
đâu? Xin em chỉ rõ.
_ Đức Thánh Mẫu thương cho em và cho anh
nữa.
Hoàng muốn hỏi thì Ánh Nguyệt chỉ:
Mơ Duyên Quái Mộng | 177
_ Trái đào có hột ló ở ngoài gọi là đào lộn hột,
còn trái bà cho em là trái hủng một lỗ, đó là trái đào
Thánh Mẫu cho em, em nhường cho anh luôn.
Hoàng cười đùa hỏi, Ánh Nguyệt cười ngất và
nói:
_ Anh dùng có ích cho anh chăng?
Hoàng chúm chím trả lời:
_ Đâu có hiểu, nhờ em cho biết.
Ánh Nguyệt nói:
_ Anh thật là có phước mà không rõ. Người dùng
một quả đào sẽ được sống trăm năm thôi. Ví như ăn
nhiều cũng sống bao nhiêu đó thôi, đâu sống nhiều
năm đặng.
Hoàng tiếp lời Ánh Nguyệt:
_ Em nhớ chăng? Trước kia đời Đường, vua Lý
Thái Nguyên, lúc thấy Tam Tạng thỉnh kinh, anh có
nghe ông Ngộ Không sống mấy ngàn năm.
Ánh Nguyệt cười và tiếp:
_ Căn Tiên mỗi vị tu hành được sống lâu!
_ Sống lâu chi cho cực khổ, lắm điều chua chát.
Thôi còn một trái em dùng đi, để sống cuộc đời vui
vẻ, đồng thọ hưởng với anh.
Ánh Nguyệt lúc này cầm trái đào ăn và nói:
_ Mỗi người đều tham sống lâu để đàm đạo, càng
thêm khắt khe.
Khi Hoàng và Ánh Nguyệt đang chuyện vãn tươi
cười, bỗng nghe một tiếng boong từ đâu tới. Hoàng
mở mắt ra, đồng thời thấy Ánh Nguyệt biến mất,
178 | Đỗ Thuần Hậu
chéo áo thoáng phất phơ trước mắt. Hoàng nghe
chuông và mõ chùa công phu, vừa tỉnh dậy mới biết
trời bình minh. Hoàng rửa mặt và uống một chén trà
nóng của bồi rót, khói lên nghi ngút.
Hoàng hỏi:
_ Anh bồi nấu nước lúc nào mà sớm vậy?
_ Thưa cậu, bây giờ là 8 giờ sáng.
Hoàng gật đầu, ngẫm nghĩ, từ lâu không có điều
chiêm bao nào mà cả đêm lẫn ngày như vậy, thật dị
kỳ quá.
Từ ngày chiêm bao mơ mộng thấy cô Tiên,
Hoàng ít ăn, ít ngủ, buồn bã như thế nào.
Khi Hoàng tỉnh giấc lại mới biết mơ duyên quái
mộng, trong cái "không" mà "có", bởi sự công phu
biến đổi thành một con đường đạo đức. Đời và đạo
khó rõ được, đâu là thế gian? Đâu là thiên đàng?
Thần tiên quỷ quái khó rõ chánh tà, nguồn đạo cao
xa.
Từ đấy, ban ngày Hoàng tu tâm dưỡng tánh, ban
đêm công phu như thường lệ, cũng nhiều khi nhớ
đến tiền duyên mơ mộng, nhưng hơi đâu để ý cho
mệt lòng, tự cho là chiêm bao quái mộng và thông
qua. Tu tâm dưỡng tánh an nhàn, không tưởng
tượng là chánh đạo, còn tà tâm phải diệt trừ. Từ đó
đến sau Hoàng không mơ tưởng nữa. Ban ngày thì lo
dưỡng trí an nhàn, đêm lại công phu luyện đạo.
Đến năm 1958, hết hè sang thu, trong một đêm
trời trong trăng tỏ, ánh trăng lấp ló, Hoàng ngồi dựa
Mơ Duyên Quái Mộng | 179
cửa để dưỡng nhàn, hiu hiu gió mát, cành cây xào
xạc, lá vàng rơi nhờ luồng gió thức dậy, lá bay cũng
như con thuyền bé tí teo thả trên mặt nước, thuyền
lênh đênh lắt lẻo trên sóng gió.
Cây cối sum suê từ khóm cũng như một bài
thơ tả trí thanh nhàn, nhớ lại năm xưa kỳ duyên quái
mộng, hình ảnh một cô gái đẹp đẽ da phơi màu
tuyết, vẻ mặt yêu kiều yểu điệu đào thơ, ngồi thuyền
dạo cảnh, không khác nào một cô gái trò chuyện
cùng ta.
Mơ Duyên Quái Mộng | 181
HỒI THỨ HAI
Hè tan, bóng thu sang, quái mộng được thong
dong thật là kỳ thú. Trời trong trăng tỏ, Hoàng thơ
thới trong lòng, bước ra đường để ngắm cảnh, nhớ
lại lúc dạo Thiên Cung, bầu trời quang đãng trong
thế gian nào khác cảnh thần tiên.
Cảnh thần tiên vui thú không khí nhẹ nhàng, còn
thế gian không khí nặng nề. Hoàng đi theo hai bên
mé đường, hàng cây thẳng rẵng, hiu hiu gió cuốn
nhành cây uốn éo quật quờ. Trong ý Hoàng nói, đây
là cây chào khách, ngao du thật là vui vẻ. Hoàng
bỗng ngó xem trăng, đây là Hằng Nga đẹp đẽ biết
bao, một cái kho vô tận, hưởng thú riêng. Hoàng mở
miệng ngâm:
Nguyệt lai môn hạ nhàn
Hòa hảo thiên thu đáng.
Hoàng hóng gió dạo chơi, dưỡng trí an nhàn rồi
trở về nhà an nghỉ. Đến giờ công phu Hoàng ngồi
tịnh xuất hồn đi cảnh thiêng liêng như thường lệ.
Khi đến cảnh thiên nhiên, Hoàng đến non xanh ngồi
nơi bàn thạch thấy sông sâu nước chảy, dòng nước
uốn quanh nhịp cầu nhấp nhô, Hoàng sực ngó lên
đỉnh núi, sơn thủy hữu tình, hữu cảnh vô nhơn.
Hoàng ngạc nhiên núi vô chủ, Hoàng vừa bay, ý nói
182 | Đỗ Thuần Hậu
không lên cao sao hiểu thấp. Hoàng bay bổng lên
chót núi, dòm xung quanh thấy cây cối nhà cửa,
nhưng không thấy người. Hoàng chợt thấy trước mắt
một ông già ước chừng trên 100 tuổi, mặc áo cà sa,
hình thể không thấp không cao, nước da ngăm
ngăm, đầu sói, tóc bạc, mặt vuông, miệng rộng, môi
to, râu dài tha thướt tới gối. Ông già chào hỏi:
_ Nhà ngươi ở đâu sang mà lão phu không được
biết.
Hoàng đáp:
_ Tôi là người thế gian, sang Bỉ Ngạn đảnh lễ nhà
Phật, xin ông cho biết đây là núi chi?
Ông lão nói:
_ Đây là Trụ Thạch Kiều Lam Sơn.
Hoàng xin ông cho biết tông tích thế nào.
Ông lão tiếp:
_ Từ đời Bàn Cổ sơ khai đã có núi này, tính lại
cũng được bốn ngàn mấy trăm năm, chỗ Phật Bà
nhốt danh hầu, sau khi mãn hạn núi còn lại đây. Kế
Quan Công Hầu mãn kiếp, hồn về tại núi này đứng
suy nghĩ, muốn trở lại thế gian để báo thù. May nhờ
Đức Phổ Tịnh Tiên Ông thức tỉnh về sự luân hồi quả
báo không thế nào dứt khoát được. Vì chí khí hùng
hậu ở thế gian ưa nhiễm, Quan Công tiếc rẻ xác thịt
là một thứ đất cặn bã. Đức Phổ Tịnh khuyên giải
không nên mê trần để bảo dưỡng thiêng liêng trong
sạch, quay đầu trở lại quy y nhà Phật, ngày sau được
thành Thánh Tiên hưởng không khí nhẹ nhàng thong
Mơ Duyên Quái Mộng | 183
thả. Nếu dày công tu, cũng có thể làm một vị Phật,
sung sướng vô cực vô biên. Từ đó Đức Quan Công
được tu hành thành chánh quả làm Phật, hiện Già
Lam Quan Tể cai quản bầu trời thế giới, diệt tà quy
chánh, pháp Phật hiện hành.
Ông lão nói chuyện vừa dứt, Hoàng quỳ đảnh lễ
thưa rằng:
_ Xin Đức Ông cho biết pháp danh của ông.
Ông ấy nói :
_ Núi là tên, tên là núi.
Hoàng bái biệt xin lui, Đức Thượng Tiên căn dặn:
_ Người khoan đi, để ta chỉ rành cõi Thiên Đàng
cho người rõ. Từ núi bước ra, có một con đường
thẳng rẵng đi về Đông Nam là Nhựt Châu Quan
Phật. Còn một đường nữa qua cầu đi thẳng về sông
Bỉ Ngạn là Nguyệt Châu Quan Phật. Vậy thì con cứ đi
đi.
Lúc ấy Hoàng bái biệt Đức Tiên Ông rồi từ giã.
Đi đến đầu cầu ngó mênh mông xem cảnh để
hiểu biết, Hoàng bước qua cầu thấy dựa bên lề
đường phía tay trái có năm khóm sen trắng đỏ vàng
và màu đỏ kiến sen, lại có một đóm khác bên trắng
có điểm ngũ sắc. Hoàng sực nhớ lại từ lâu rồi Hoàng
cũng bẻ sen này để dưng cho Đức Phật mà không
cám ơn ai hết. Nhưng rất tiếc, phải chi có chủ để
đảnh lễ tạ ơn mới phải. Hoàng ngó xéo bên kia có
một ngôi nhà lộng lẫy rất đẹp, có nhiều bồn bông
tươi thắm, nhưng không người vãng lai. Lúc ấy
184 | Đỗ Thuần Hậu
Hoàng ngơ ngẩn thấy dựa bên đám sen có bốn người
thục nữ bận áo đủ sắc tùy theo sắc bông, đầu cài tóc,
hai bên tai đeo bông tụi, áo viền sòi tựa như người
Trung Hoa, tuổi chừng mười tám, đôi mươi, hình
dung gọn ghẽ, mặt tròn da trắng, cườm tay đeo cẩm
thạch và nhiều thứ kim sa xích châu, pha lê chói
sáng. Các nàng ấy bước đến chào Hoàng, chúm chím
miệng cười hỏi:
_ Người có biết chúng ta là ai chăng?
Hoàng chấp tay đáp:
_ Bạch Tiên Cô, tôi là người ở trần gian không
được hiểu, xin Tiên Cô cho biết.
Tiên Cô chúm chím cười và nói:
_ Chị em chúng tôi làm chủ mấy đám sen này.
Chúng tôi là Liên Hoa Tiên Nữ, còn khóm sen bên
trắng điểm ngũ sắc là Lý Thượng Tiên.
Hoàng giựt mình chấp tay làm lễ thừa nhận:
_ Tôi thật là vô lễ, từ mười năm nay thường khi
tôi công phu có đến đây bẻ bông để dâng Phật, đến
ngày nay mới biết. Xin Tiên Cô dung thứ cho.
Cô Tiên cười và đáp:
_ Sen này được tươi tắn, mùi thơm bát ngát, từ
4.000 năm có lẻ, chúng tôi ở đây giữ sen này cho bà
Cửu Thiên Huyền Nữ để làm hội, cùng các quần Tiên
cũng được thông dụng. Ngày nay đúng thời kỳ để ra
mắt cho người biết, chớ có lỗi chi mà ngại.
Hoàng chấp tay xin bẻ bông để dưng Phật thì
Tiên Cô nói:
Mơ Duyên Quái Mộng | 185
_ Tự lòng, bông này dưng Phật rất tốt, tốt nơi
lòng người.
Lúc ấy Hoàng đến khóm sen thì mỗi khóm có hai
bông. Sen vượt lên ướm nở, mùi sen bát ngát. Hoàng
bẻ mỗi khóm hai bông, rồi đến một khóm sen trắng
có nhiều điểm ngũ sắc chói lòa. Trong đám sen hiện
lên một ông già dư trăm tuổi, mặc áo khảm xanh
viền kim tuyến, đầu sói, chân mày bạc, đôi mắt long
lanh. Hoàng lễ bái, Tiên Ông cười, hỏi:
_ Môn đệ có biết ta chăng? Cách 15 năm trước
môn đệ bay vào trong mặt trăng, đi ngao du hứng
cảnh. Đến năm hòn núi ngũ sắc kim sa, ta cùng Tiên
Nữ cỡi hồ lô liên căn bay trước, môn đệ theo ta. Cách
ba năm sau, vào mùa hạ năm Dậu, ta có hứa, đến lễ
đăng ngũ giờ Ngọ, nhà ngươi được đảnh lễ Nhựt
Quan Phật, ta chỉ cho phép hóa thân, vì môn đệ có
lòng ao ước. Ta đây là Lý Lão Tiên Ông.
Lúc ấy Hoàng ngạc nhiên nhớ lại, chấp tay đảnh
lễ Tôn Sư:
_ Xin Tôn Sư lấy đức từ bi tha thứ cho con.
Tiên Ông nói:
_ Đệ Tử không nên ngần ngại, từ đây Tôn Sư hộ
độ cho con.
Đồng thời lúc ấy, thấy một cô Liên Hoa Tiên Nữ
tại khóm sen đỏ bay lên nhẹ nhàng, đứng trước mặt
chào Hoàng và hỏi:
_ Anh có biết em chăng?
186 | Đỗ Thuần Hậu
Hoàng ngơ ngẩn không nhớ được, kế Tôn Sư
triệu thỉnh ba cô Tiên đứng trước khóm sen đến
trước mặt Tôn Sư. Tôn Sư chào các cô Tiên và nói:
_ Ngày nay đã đến thời kỳ hội Phật Bà, mời các cô
Tiên đến Phật Sự chứng kiến phép hóa thân cho môn
đệ này.
Lúc ấy Tiên Ông cùng các Liên Hoa Tiên Cô nhẹ
nhàng bay bổng. Hoàng cầm bó sen bay đến Phật Sự
dưng sen đảnh lễ Phật, Phật nói:
_ Ngày nay Lý Đại Tiên đã hứa cho chúng sanh
được phép hóa thân.
Hoàng đảnh lễ Phật Sự:
_ Xin Phật lấy từ bi hộ độ cho con.
Lúc ấy Tiên Ông và các cô Tiên bay bổng qua
động Quan Âm Bồ Tát. Hoàng tay cầm bó bông bay
theo và đi sau vào động dưng hoa đảnh lễ Đức Quan
Âm Bồ Tát. Hoàng xin Đức Quan Âm lấy từ bi hộ độ
cho con.
Hoàng đảnh lễ và bái biệt. Lý Tiên Ông cùng các
cô Tiên Nữ cũng từ biệt Đức Quan Âm. Tiên Ông
cùng các Tiên Nữ nhẹ mình bay trước, Hoàng cũng
tiếp bay sau. Khi đến khóm sen thì Lý Tiên Sư và các
cô Tiên còn chờ. Hoàng đảnh lễ và chịu thọ giáo Lý
Tiên Sư và các cô Tiên, duy có một cô Tiên mặc áo
kiến sen từ chối, mở miệng chúm chím cười và nói:
_ Anh Hoàng ơi! Lúc từ giã phân tay ở trần gian
đến nay, anh cùng tôi hứa hôn bên cảnh trời Nam,
cũng chẳng đặng bao lâu, sao anh đành quên đi.
Mơ Duyên Quái Mộng | 187
Chính em đây là Ánh Nguyệt. Em cũng nhờ Lý Tiên
dạy bảo.
Lúc ấy Lý Tôn Sư từ biệt bay bổng trên không,
còn các cô Tiên biến mất. Hoàng nghe trên không
trung có tiếng nói:
_ Chúng ta là Tiên Cô, đã đến giờ hội của Trưởng
Lão Tiên, nên không thể ở nán được.
Hoàng còn nghe tiếng từ giã sau chót là cô Ánh
Nguyệt cũng xin thứ lỗi, Hoàng bái biệt, lạy đưa Lý
Tôn Sư rồi trở về bản thể.
Mơ Duyên Quái Mộng | 189
HỒI THỨ BA
Một đêm mưa gió mịt mù, bóng hoàng hôn đưa
đến, không một khách vãng lai, giọt mưa lốp đốp
ngoài đường, Hoàng vội xem đồng hồ thấy đã 8 giờ.
Ngoài sân gió cuốn nhành cây hột mưa rì rào, đồng
hồ tíc tắc thúc đẩy trong lương tâm của Hoàng nhớ
đến hôm nay là ngày mùng mười tháng tám cũng
gần đến lễ Trung Thu. Trời thu sẽ mát mẻ, bóng
trăng tươi sáng, Hoàng sẽ dạo khắp nẻo đường ở Đô
Thành để ngắm cảnh, ước ao được gặp bạn trò
chuyện vui chơi, nhưng bây giờ lễ Trung Thu chưa
đến, trời lại âm u mưa gió. Hoàng sực nhớ Lý Đại
Tiên Tôn Sư, Hoàng mong mỏi đến giờ công phu để
được gặp Tôn Sư, xem người phán đoán phép hóa
thân ra thế nào. Hoàng suy nghĩ đợi đến giờ sẽ công
phu. Khi Hoàng thức giấc thì đồng hồ đã gõ đúng 12
giờ, đúng giờ công phu, xuất hiện nguyên hình đi
theo lối cũ đến đỉnh núi Kiều Lâm Sơn. Hoàng đảnh
lễ chào Tiên Ông nhưng ngài vắng mặt. Hoàng ngồi
nơi bàn thạch, nhìn xuống kẽ đá thấy cỏ mọc lưa
thưa như lá hẹ, bông vàng thơm nức nở. Hoàng
ngắm cảnh vui thú với chỗ không không, chợt có cô
Tiên Nữ thoáng ngang qua. Hoàng vừa chào và định
hỏi, Hoàng chưa kịp hỏi thì cô Tiên đã chúm chím
cười, tay chỉ khóm cỏ có bông và nói:
190 | Đỗ Thuần Hậu
_ Đây là Linh Chi Thảo gốc ở Động Quan Âm,
Đức Cửu Thiên Bồ Tát đem về trồng nơi đây, lá
xanh, bông đỏ, nhụy vàng, mùi thơm như bông
nguyệt dạ hương, để giúp trí thoát bệnh mê ly dưới
trần, nếu người phàm uống thứ thuốc cỏ này thì
bệnh mê ly chóng khỏi, từ trong bóng tối đem lại
ánh sáng. Cô Tiên ấy cho bốn câu thơ như sau:
"Linh chi vốn cỏ ở Thiên Đàng
Thế gian lâm bệnh phải rã tan
Nhơn gian ngộ đạo Thần Tiên hóa
Vàng ròng trăm gánh chẳng đợi sang".
Cô Tiên vừa cho bốn câu thơ rồi, thì từ giã bay
bổng. Hoàng đảnh lễ Tiên Cô đi. Lúc ấy Hoàng cũng
vui thú, mới nói đây là cảnh thần tiên, lấy làm lạ cho
đến một cây cỏ, một cục đá cũng hữu tình.
Hoàng than rằng:
_ Thế gian người lo tranh chấp, rừng núi thì
nhiều thú dữ, còn cây dây lá đều gai góc và nhiều
chất độc giết người, người hiền phải sanh sống đổ
mồ hôi xót con mắt mới có ăn.
Hoàng thức tánh:
_ Khi nào ta biết cái khổ, ta không mê trần thì
nào bị khổ. Tại mình mê trần không chịu giác đắc, để
tránh họa của trần gian mà thôi.
Hoàng ngâm bốn câu thơ như vầy:
Mơ Duyên Quái Mộng | 191
"Miếng gió Thiên đàng để gánh mang
Con thuyền tay lái kiếp trẩy sang
Bầu trời thế giới ta run rẩy
Thức tánh từ đây mới dễ dàng."
Hoàng ngâm bốn câu thơ rồi, trổi bước qua cầu
đến chỗ Liên Hoa Tiên Nữ đảnh lễ Tôn Sư Tiên Ông,
cùng tứ vị Tiên Cô. Hoàng vừa hái xong bông sen thì
Tôn Sư Tiên Ông cùng tứ vị Tiên Cô hiện ra trước
mắt. Tôn Sư quở, mới đến thiên đàng vội bỏ thế gian
sao đặng:
_ Con ơi, trần thế nợ nần bao lần phải trả, trả
xong nợ mới được thảnh thơi. Căn là thiên đàng, nợ
là thế gian, làm sao con tránh khỏi. Hôm nay thầy
cho con biết, thầy giác minh thức tánh cho con một
củ sen hóa ra trái bầu. Bầu muốn lớn nhỏ tùy ý con
muốn. Thầy luyện sen này bốn ngàn mấy trăm năm
nay trở thành một đồ đệ, tuy là vật không tai mắt,
vẫn biết nghe, chiều lụy và vâng lời. Thiên thượng
nhân gian tứ hải sơn xuyên đều là bầu sen thông
cảm, sức nặng chở ngàn cân, nhẹ như bong bóng,
trung thành theo chủ.
Hoàng bạch với Tiên Ông:
_ Bầu nặng đến ngàn cân, sức con yếu làm sao xử
khiến cho nổi, sau khi đem về nhà?
Tôn sư cười và nói:
_ Con ở trần gian còn mê tánh, bản thể con là
tiểu thiên địa, bằng một cõi thiên đàng. Con còn mê
192 | Đỗ Thuần Hậu
muội, bầu sen biết trước hơn, khi con về đến bản thể
thì nó sẽ biến thành hột cát. Khi con vừa đáp chân
vào bản thể thì quần áo và hành lý của con cùng bầu
sen bay đến chỗ. Thầy đã sắp đặt đàng hoàng cho
con không mệt trí, đó là phép Tiên Phật vô cực vô
biên, bất tiêu diệt. Sẵn đây, thầy cho con rõ duyên
mơ quái mộng, đó là một nàng Huỳnh Hương Liên
Huệ Tiên Nữ. Trời Phật đã ban cho mỗi người một,
để phân tách chữ mê ly quái mộng con hiểu được
chăng?
Hoàng bạch Tôn Sư:
_ Con ở trần gian tối tăm xin Tôn Sư chỉ giáo.
Tôn Sư nhép miệng cười và nói:
_ Con còn ngu muội, cái tỉnh là thế gian, cái mê
là thiên đàng. Hết mê tới tỉnh. Ly là hồn lìa bản thể,
dạo khắp càn khôn bầu trời thế giới, quái mộng xem
xét cái cặn bã mê trần, quái lạ, quái mị, quái ngu
muội, ngu muội là tối đem lại cái sáng. Có tối có
sáng mới thấy Thiên Đàng. Thôi thầy chỉ cho con bấy
nhiêu cho con rõ đạo.
Tôn Sư nhép miệng cười và chỉ, giờ này là giờ tốt,
Tôn Sư chỉ tiếp và nói:
_ Đây là quái mộng năm xưa, ngày nay con được
nhẹ nhàng, thầy giao Tiên Nữ là một đồ đệ của thầy
để hầu kề làm đôi bạn với con, để thúc đẩy sự tu
hành và an ủi con.
Tiên Tôn Sư vừa cười vừa nói:
Mơ Duyên Quái Mộng | 193
_ Thầy cho con bốn câu thơ này, con hãy nhớ rèn
luyện tu tâm, thẳng thắn một con đường. Đến chừng
Hiệp Thiên Đài mới rõ Thánh Minh.
"Thánh diệp dương châu Ánh Nguyệt quang
Thông cảm tam tằng liên căn bản
Tứ bá niên tiền thiên thu lảng
Minh tinh cấu tạo điểm điểm nhàn".
Thầy khuyên con ráng tu tâm dưỡng tánh, tánh
mạng an lành mới thành chánh quả. Thôi hai con trở
về trần gian lo bồi phước đức. NAM MÔ A DI ĐÀ
PHẬT.
Lý Tôn Sư bay bổng. Hoàng và Ánh Nguyệt lạy
đưa và từ tạ. Lúc ấy Hoàng và Ánh Nguyệt cầm hai
bó sen bay thẳng qua sông Bỉ Ngạn làm lễ Phật và
Đức Quan Âm Bồ Tát, đưa ra một đĩa có hai trái cây
hình như quả nhàu, vàng trong lóng lánh, màu tựa
chà là. Quan Âm Bồ Tát khuyên Hoàng và Ánh
Nguyệt mỗi người ăn một trái, mùi thơm bát ngát lạ
thường. Lúc ấy hai người đảnh lễ Quan Âm xin về
bản thể, ngồi lên trái bầu cất lên nhẹ nhàng bay theo
con đường cũ đến khóm sen. Hoàng và Ánh Nguyệt
ngó đám sen bái biệt và từ tạ. Ánh Nguyệt than
rằng: "Từ đây xa cách các chị, không được gần nhau
đàm đạo. Ôi! mỗi người cũng có căn phận, rồi các chị
cũng từ từ đi nơi khác", Ánh Nguyệt ngước lên trên
không đảnh lễ và từ giã. Bầy tiên bay đến núi Kiều
194 | Đỗ Thuần Hậu
Lam Sơn, Hoàng và Ánh Nguyệt bái biệt trở về bản
thể.
Mơ Duyên Quái Mộng | 195
HỒI THỨ TƯ
Kỳ duyên hảo hiệp, âm dương phối hợp, ảo mộng
hườn nguyên, quái tinh thành chánh quả.
Lúc ấy đôi vợ chồng bước xuống hạ thiên đàng,
Ánh Nguyệt chỉ trong phòng mà nói:
_ Anh xem chỗ ấy rộng rãi bàn ghế đủ tiện nghi.
Thưởng thức vui thú, ngoài sân thì có bàn thạch để
ngồi hóng mát, đủ màu bông quý báu, kỳ hoa dị
thảo, hương nồng bát ngát, bên mặt có lầu vọng
nguyệt, bên trái có chỗ tửu yến trà đình.
Ánh Nguyệt nói:
_ Anh đi với em lên phía bên này để hưởng thú
vui.
Khi lên vừa tới chỗ thấy một đĩa quả tử, trên có
hai trái đào, xanh và đỏ, có một bầu rượu bằng pha
lê, nước trong màu vàng, Ánh Nguyệt rót rượu vào ly
mời Hoàng uống. Hoàng từ chối không thể uống.
Ánh Nguyệt cười nói:
_ Anh uống phân nửa còn bao nhiêu em uống —
mới gọi là kỳ duyên phối hợp. Pháp Phật hiện hành
em đâu cãi lời Phật dạy.
Khi Hoàng và Ánh Nguyệt uống xong ly rượu,
Ánh Nguyệt cười và nói:
_ Ly rượu huỳnh tương làm lễ phối hợp, lúc đôi ta
còn nhỏ, cha Trời mẹ Đất đã bảo theo anh cho tới
nay là 76 năm.
196 | Đỗ Thuần Hậu
Hoàng nói:
- Ủa em đã lớn tuổi như anh sao?
Ánh Nguyệt nói:
_ Đồng thời chúng ta sanh ra một lượt.
Hoàng hỏi:
_ Sao em còn đẹp thế?
_ Thưa anh, Trời Phật, ngũ hành cho chúng ta
một thứ Điển Quang, từ trên không khí tam thập
tam thiên chiếu xuống, hợp không khí trung thiên
vào một bánh xe luân hồi. Anh là phần Dương, em là
phần Âm, hợp với dương khí trần gian, anh nhờ
dương khí bên cha, em nhờ huyết lực của mẹ hợp
nhiên vào trong cơ quan của cha và mẹ cấu tạo, quy
nguyên hợp nhứt làm thành một chất nguyên tử, hóa
dục quần sanh, tạo thành một viên nguyên tử vi
trùng, phần âm dương, hình dáng như một miếng
bánh, hình tròn dẹp, trong vòng tròn có một điểm
linh quang đỏ đậm và một hình chữ S, đó là Nhựt
Hồng Nguyệt Quang, rồi hóa ngũ tạng, lục phủ, gọi
là một cơ quan tức là guồng máy bản thể con người.
Trong ấy phân làm ba từng: thượng, trung và hạ
huỳnh đình, cũng có nghĩa tiên thiên, trung thiên và
hạ thiên. Bộ đầu, trái tim, lá gan, bao tử và lá phổi,
đó là cơ quan giao phần làm việc cho anh, chủ về
phần hồn. Còn em thì lục phủ, huyết thịt làm việc cai
quản châu lưu bản thể, bên ngoài thừa tiếp bên
trong. Bản thể có tả bành chất cũng gọi là tả khuynh,
Mơ Duyên Quái Mộng | 197
còn hữu bành cư gọi là hữu hướng còn ở giữa gọi là
trung bành mạng để phụ thuộc việc làm của em.
Xem xét mặt trái trước sau gìn giữ bản thể, còn
em làm chủ bên ngoài gọi là phách hay vía. Hình
bóng bao la bản thể thì anh em ta là hai chất nguyên
tử thiêng liêng. Thiêng liêng là điển nóng điển
nguội, hay là lửa âm dương phối hợp ngũ hành, biến
hóa vô cùng, già trẻ biến đổi gọi là hồn vía, anh là
chồng em là vợ, còn bản thể là một thứ đất trong
sạch của mảnh đất phù sanh trên thế gian, cũng như
một cái bì bao bề ngoài, để bao bọc một cái máy. Ví
như một chiếc tàu, bên trong có máy, bên ngoài thì
hình thể chiếc tàu. Trong đó, anh coi về phần máy là
cơ quan, còn em coi về bản thể chiếc tàu. Khi bản
thể chiếc tàu hư mục, đúng tuổi thì cái máy cũng
đúng tuổi, hễ chiếc tàu hư, thì xác gọi là chết, phải
trả cho đất của thế gian.
Còn hồn và vía của đôi ta trở thành một nguyên
tử hợp nhứt, gọi là thiêng liêng.
Trong bản thể có từng bực cơ quan, đủ tiện nghi
tại Hiệp Tích là chỗ giữa xương sống đùm đầu lòng
và ruột gan dính vào đấy, là chỗ hồn ở gọi là anh hay
là chồng, và vì dưỡng khí. Còn chỗ em ở xương sống
phía dưới có hai trái cật dính vào xương sống, kế đó
có một lỗ gọi là hạ thiên môn. Trong ấy có một váng
nhện thiêng liêng, ngươn khí mịt mù mờ ngăn tại đó.
Còn phía ngoài bụng, có một cái rún gọi là Tề Luân
Hư Cảnh, nghĩa là một bánh xe điện, xung quanh
198 | Đỗ Thuần Hậu
ngoài da bụng có bốn dây gân, chẻ hai làm tám sợi,
gọi là bốn bánh xe lửa nước chung với lỗ bánh xe
rún. Lỗ bánh xe rún có thứ điển lửa, ăn thấu từ trên
bộ đầu, lấy khí hạo nhiên tiên thiên thừa tiếp vận
động xuống để làm cho các cơ quan bên trong bên
ngoài của con người thâu phóng âm dưỡng khí. Bên
trong chỗ rún hút dưỡng khí của trời đất, thừa
chuyển các cơ quan châu lưu bản thể, khí này lọc
sạch chuyển lên trên thượng cơ quan huỳnh đình,
cho bản thể con người thở ra thâu vào thì bản thể
con người mới hoạt động. Sự sống của bản thể con
người dồi dào nơi ngoài rún gọi là ngoại hạ bì thiên
môn, còn phía trong lỗ dưới trái cật gọi là hạ thiên
môn, chỗ mù mờ đó là một cái cửa của thiêng liêng.
Người công phu làm điển nội tích số 15 thở bên
trong để lọc cái hơi điện nhẹ nhàng, đem lên bộ đầu
vận động soi mở cửa khiếu trở nên thông, làm cho
khớp xương miệng của bộ đầu nứt hở ra, thì mới
xuất hồn được. Thưa anh, chỗ em ở đây là chỗ cạnh
cửa bên mặt hạ thiên môn, còn bên trái là đường
mạch đốc vận các ngươn khí, bản thể xác thân của ta
lừa lọc khí trong sạch, thừa tiếp phía dưới, ăn thấu
đến trên gọi là huệ tâm thông.
Ánh Nguyệt nói, rồi ngã vào lòng Hoàng — cười
và nói tiếp:
_ Anh Hoàng có biết chưa chúng ta đồng thời ở
trên minh triết vô cực, cha Trời mẹ Đất, xuống thế
gian đầu thai vì căn cứ tội lỗi thiên đình, sai xuống
Mơ Duyên Quái Mộng | 199
vào một xác thân con người. Xác thân con người là
một vật chất trong đấy có cơ quan, bên trong bên
ngoài thừa tiếp điển quang của Trời Phật để cho ngũ
tạng là năm khóm lửa làm việc châu lưu bản thể.
Bản thể là một cái khám tối, giam hãm anh, còn em
phải bước chân bên ngoài bản thể của xác. Xác là vật
chất, máy trong bản thể của Trời Phật lập ra dưới thế
gian này, rất thiêng liêng tinh xảo, khỏi điều tra
khảo cứu, thưởng lành phạt dữ báo ứng nhân quả
nhãn tiền. Chúng ta làm điều sái quấy như: tham,
sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. Nếu chúng ta ở thế gian mê
trần, làm cho hùng dũng bạo động, thi hành những
sái quấy trên cho vừa ý muốn, hoặc là có ý giết hại,
bất tuân lịnh minh triết, không chịu làm lành, chánh
tâm tu thân, khắc kỷ phục lễ, nhơn nghĩa lễ trí tín thì
cả máy tâm của cơ quan ngũ tạng bản thể của con
người sẽ minh xét tinh xảo, lập tức phán đoán và xử
tội, trong cơ quan tự xử lấy, thưởng phạt vô cùng.
Hễ chúng ta làm lành thì điển lửa của chúng ta sẽ
được lên cao, trong bản thể được sáng suốt hơn. Nếu
làm dữ không thuận lẽ Trời Phật thì lửa bản thể
nặng nề không được lên cao, trí tuệ ngu xuẩn. Bởi
thế Trời Phật giao phó cái bản thể cho con người,
làm phải gặp phải, làm quấy gặp quấy, Trời Phật
không cần xét, có câu: "Thiên võng khôi khôi sơ nhi
bất lậu", nghĩa là lưới Trời cao xa, thưa mà chẳng lọt.
Nếu làm tội lỗi thái quá trong thế gian, Trời Phật để
cho người thế gian hành hạ, người phạt người. Thì
200 | Đỗ Thuần Hậu
điển linh hồn đó có tội một lần thứ hai, không thể trở
về minh triết được.
Ánh Nguyệt nói vừa rồi ôm Hoàng hôn và khóc:
_ Bạn ơi! Chúng ta bị giam hãm trong khám tối
này, anh là một vị điển linh hồn bị kềm thúc sâu xa
trong địa ngục trái tim không rõ ngoài thế sự, anh
nhờ có em là Ánh Nguyệt không bạo động, ít tội lỗi.
Đến nay xác thân đã 76 tuổi thì sự kềm hãm linh
hồn của anh mới được nới ra. Anh lo công phu luyện
đạo, ngày nay linh hồn được sáng suốt. Còn em được
nhẹ nhàng để làm việc cho bản thân, tóm tắt trong
đây gọi là hồn vía hay là vợ với chồng, để giữ bản thể
chớ ai đâu lạ! Thôi chúng ta vào phòng nghỉ ngơi
khỏe khoắn. Kế đến ngày Trung Thu Nguyệt Lãng
em sẽ cùng anh đảnh lễ Phật Trời cùng các chư Tiên
là khác. Từ đây sắp tới em sẽ là người vợ hiền đối với
anh, mọi việc phải cùng nhau sốt sắng công phu
luyện đạo, hầu mong đến ngày mãn hạn kết quả.
Hôm nay là ngày mùng Tám tháng Tám, ngày vía
của em cùng các cô Liên Hoa Tiên Nữ, lại là ngày
Tôn Sư truyền pháp. Em cũng xin tạm biệt một hai
tiếng đồng hồ để lên thượng giới đảnh lễ Tôn Sư.
Hoàng nói:
_ Em có đi thì đi một lượt dễ dàng hơn.
Ánh Nguyệt cười và nói tiếp:
_ Để phân tách coi chừng bản thể, không thể bỏ
rơi, vì đêm nay có Bắc Đẩu Tiên Ông giáng trần
Mơ Duyên Quái Mộng | 201
không nên sơ thất. Nếu anh muốn đi, em về thay thế
cho anh chẳng muộn.
Lúc ấy Ánh Nguyệt ôm Hoàng tỏ lòng yêu mến,
Hoàng cười và tiếp:
_ Vợ chồng là việc trăm năm, có câu: "Xích thằng
thế tục thiên niên cổ", sự yêu mến vô bờ bến. Em đi
cứ đi. Ánh Nguyệt từ giã Hoàng.
Mơ Duyên Quái Mộng | 203
HỒI THỨ NĂM
Ánh Nguyệt rưng rưng nước mắt mở miệng than:
_ Anh Hoàng ơi! Bấy lâu nay một bước không rời,
bây giờ cách mặt biết đời nào nguôi.
Hoàng cười và nói:
_ Thôi em đi mau rồi về nhé.
Ánh Nguyệt từ giã bay bổng lướt dặm thang mây
đến viếng thầy, được các bạn chào mừng vui vẻ,
chuyện vãn dắt nhau đến đảnh lễ Tôn Sư. Tôn Sư
chào mừng, hôm nay thầy thứ lễ cho các con và thứ
lỗi cho Hoàng để kỳ khác sẽ viếng thầy.
Vì sự gấp rút, các con mau xuống trần gian
không nên trễ, vì Tiên Ông Bắc Cực đã giáng thế,
vậy các con mau trở về thi hành phận sự. Lúc ấy,
Ánh Nguyệt bái tạ Tôn Sư lui về bản thể, Ánh
Nguyệt vừa đi vừa ngó trên không thấy một bóng
hào quang chói rọi xuống trần gian, Ánh Nguyệt biết
là vì sao Bắc Đẩu giáng thế. Ánh Nguyệt bái tạ trở về
bản thể, vợ chồng vui vẻ, Ánh Nguyệt nói:
_ Thầy đã biết trước thứ lỗi cho anh, khi khác sẽ
viếng thăm thầy.
Hoàng nói:
_ Thầy biết trước trong lương tâm của Hoàng
mong mỏi, thật hay quá.
Ánh Nguyệt nói:
204 | Đỗ Thuần Hậu
_ Một vị Tiên Trưởng tu mấy ngàn năm, không
hay không giỏi sao đặng.
Hoàng chép miệng than rằng:
_ Đến nay là 76 tuổi xuống trần gian, tu được 25
năm, việc tu thành một vị Tiên Trưởng rất khó.
Ánh Nguyệt nói:
_ Chúng ta là một cặn bã của Phật Tiên, khi bị
đày xuống trần, mãn hạn được quay đầu trở lại cũng
chẳng muộn chi. Anh ơi, hơi đâu mà than xiết, chúng
ta ra ngoài ghế kỷ uống rượu, ăn bánh lót lòng rồi
em phân tách chánh tà, chơn giả cho anh nghe.
Từ khi anh cùng em trên thiên không, bị lôi
xuống trần gian vào một bản thể làm chủ, trong cơ
quan bản thể, hư chết mới được trở về gọi là mãn
kiếp, anh cùng em là bản chánh thể, còn thế gian gọi
là hồn vía. Sự ăn uống trong bản thể hấp thụ nuôi
dưỡng tinh thần. Tinh là anh, thần là em.
Trong bản thể hư hao đau ốm cùng mọi mặt,
chúng ta phải chịu trách nhiệm và đau khổ, bản thể
ăn ngủ, thì chúng ta cũng ăn ngủ, đến khi thác thì
anh cùng em phải ngưng trệ, để cho trần gian chôn
lấp bản thể xuống bùn lầy. Vì bản thể là đất, ăn uống
làm phận sự trần gian, đều bằng đất, ăn của thổ phải
hoàn lại thổ. Chúng ta đều đứng tại chỗ chôn lấp bản
thể trong 49 ngày, rồi chúng ta bắt tay nhau bay
bổng về chốn cũ "Thiên Đàng". Trong thế gian có
nói: "Sanh đồng quan, chết đồng quách", ăn một
mâm, ngủ một mùng thì chỉ có em cùng anh là vợ
Mơ Duyên Quái Mộng | 205
chồng chánh đáng, gọi là chánh; còn tà là vợ chồng
xác thịt, ở thế gian ăn và đau riêng không ai chịu thế
đặng, ngủ cũng riêng biệt là khác. Đến khi chết, xác
chôn riêng, vợ một nơi chồng một ngả, đâu có chịu
chung số phận gọi là tà, bất chánh.
Hoàng nghe Ánh Nguyệt nói, thức tỉnh ôm Ánh
Nguyệt khóc:
_ Em ơi! Anh thật mê muội, nhờ em thức tỉnh,
anh mới rõ chân lý, hơn nữa anh được biết thế nào là
tà, chánh, thế gian, thiên đàng. Thôi từ đây em cùng
anh được an ủi, tu hành trở về chốn cũ: Cõi Phật.
_ Nhưng có một điều, bề ngoài dưới Hạ Thiên
Môn là huyệt Tề Luân Hư Cảnh, tại Hạ Huỳnh Đình
là trước cửa động thứ nhứt là chỗ bí yếu, nhưng
người phàm tục lại tin theo sách, không căn bản, nào
biết trước chỉ lại người sau, hay là người tu ngang
chướng vô bờ bến, nói dóc nói bừa, không rõ phép
đạo tu hành, bắt chước, con số này bị bệnh cổ
trướng, sốt rét, máu không chảy, u nghẹt cơ quan
không thông, thầy thuốc không thể trị được, chết bất
đắc kỳ tử. Chỗ ấy là chỗ bí yếu của Trời Phật, để xem
xét những người tu hành luyện đạo, công quả thế
nào nhiều hay ít, tiền căn hậu quả, tội nặng nhẹ bao
nhiêu. Nếu chưa mãn tội, hoặc trắng án mà làm con
số này thì tội trạng càng gia tăng thêm. Cũng như
người bỏ khám mà trốn. Em chỉ sơ qua cho anh hiểu,
người công phu luyện đạo bớt tội lỗi, thì quan tòa ở
trong cái máy lương tâm biết rõ và thông cảm, thì cái
206 | Đỗ Thuần Hậu
máy ấy trên Cửu Khiếu bộ đầu lần lần nới ra, gọi là
địa ngục khai thiên môn, thiên đàng mở cửa chỗ
giam hãm linh hồn và vía được thong thả. Công phu
dày công chừng nào thì linh hồn ấy sẽ được một
phần tự do xuất cảnh, đi trên không dạo mát. Trời
Phật không bắt buộc, được quyền tự do tạm. Lúc
mãn hạn bỏ xác mới được về cảnh cũ.
Anh nhớ khi đến chỗ này, muốn đi sâu sâu vào
cửa thiên môn thứ hai, có câu chú của Phật như vầy:
"Nam Mô Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Sắc bất dị không, không bất dị sắc.
Thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
Thọ tưởng hình thức diệc phục như thị,
Độ nhất thiết khổ ách,
Nam Mô A Di Đà Phật"
Rồi anh ngồi tỉnh ý khép hơi và trong ý tưởng
đem hơi vô trong lỗ thiên môn thứ hai, vào đường
mạch đốc, soi để cho hơi chạy thẳng lên trên bộ đầu.
Mỗi ngày anh công phu luyện đạo từ từ như vậy, cho
khớp xương bộ đầu nở thêm ra, lỗ tai hơi thở soi
trống, còn lỗ mũi trong ý anh bít không thở thì Cửu
Khiếu trở nên thông. Từ đó đến sau thấy bụng ta thở
không làm việc mạnh, hơi thở nhẹ nhàng cho đến đỗi
miếng bông gòn để trên lỗ mũi không bay tạt chỗ
khác. Anh cứ công phu như vậy 60 đêm, khuyên anh
Mơ Duyên Quái Mộng | 207
làm việc nhẹ, nếu lấy sức mạnh thì bản thể ta động
chạm, hơi ứ tại cơ quan.
Cơ quan ngưng trệ phát bệnh tức, sốt rét, ăn
không tiêu, mỏi mê, trái tim nhảy mạnh hồi hộp,
chóng mặt, mệt. Bệnh này thầy thuốc ở thế gian
không thể trị, nhờ công phu luyện đạo mới sửa được
bộ cơ quan, nếu không sửa được thì phải thác.
Tới đây là con số 16, anh ngồi tịnh, tưởng cho
anh được đi đảnh lễ Phật, ý anh nhớ một chút rồi bỏ
qua, làm như không nhớ chi hết, gọi là thâu điển và
thừa phát. Lúc ấy hồn xuất tại mỏ ác, bay bổng trên
không rõ rệt, vừa đi vừa dòm xuống thấy bản thể
anh ngồi công phu gọi là xác, nhưng có một phần vía
cặn bã ở giữ xác thân, đây là rốt cuộc. Còn những
điều từ trước đến sau, anh công phu cách nào, bên
trong là anh công phu, bên ngoài có em giúp đỡ.
"Chồng khôn vợ đặng đi giầy,
Vợ khôn chồng đặng có ngày làm Tiên."
Anh Hoàng ơi, việc công phu luyện đạo nhiều lúc
bí ẩn. Em là bề ngoài công phu hiểu nhau, em tuân
nơi Phật Pháp hiện hành để làm việc chung sống với
anh. Trong cái Tạo Hóa huyền vi không nên phân rõ
rệt. Kể từ anh chán đời qua đạo, công phu bao nhiêu
em rất mừng, nhờ sự cố gắng của đôi ta, mới được
sự linh nghiệm, từ chỗ tối nào là Hà Sa phát ra
ngoài, bay qua lại nhanh nhẹn, ở trên, anh thấy một
208 | Đỗ Thuần Hậu
luồng điện sáng chói đó là điển linh quang, có câu
Phật nói: "Nhứt điểm quang minh, vạn điểm hà sa."
Đóm hà sa thuộc về ngũ quan bộ đầu, rồi tới ngũ
tạng thì có thứ hà sa ngũ sắc, rồi tới huyệt Tề Luân
Hư Cảnh, cũng có ngũ điện hạ thiên môn, biến ra
ngũ sắc vòng tròn lớn, cũng giống như trời đất bao la
thế giới.
1- Ngũ quan
2- Ngũ tạng
3- Tề Luân Hư Cảnh
có ngũ sắc cộng là 15 điểm. Khi anh vào cửa Hạ
Huỳnh Đình là chỗ Hạ Thiên Môn, ý anh nhấn mạnh
và thoát ra thì ánh sáng vội thẳng lên tới bộ đầu.
Nhưng anh đi tới nửa chừng chỗ hiệp tích, anh cũng
nhấn thoát ra rồi anh đi thẳng lên trên bộ đầu thì
anh cũng nhấn thoát thì điển sáng chói tất cả bầu
trời thế giới, anh thấy hình ảnh anh tung lên, gọi là
xuất hồn, khi anh nhấn thoát gọi là cái chìa khóa,
còn chỗ nhấn thoát tại mỏ ác, bộ đầu gọi là số 16,
nhưng lúc nào cũng có em phụ thuộc tiếp điển, thúc
đẩy bên trong, bên ngoài thừa tiếp hiệp với điển
không không. Từ đó đến sau Thiên thượng nhơn gian
đồng nhứt khí.
Mơ Duyên Quái Mộng | 209
| 211
Tình Trong Bốn Bể
(Điểu Sào Thiền Sư)
212 | Đỗ Thuần Hậu
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 213
Lời Tựa
Đây là tiểu thuyết nói về lí trí, tả sơ cho các
bạn tu tâm dưỡng tánh xem chơi cho thỏa lòng mộ
đạo, xem giải trí, đánh đổ sự buồn tủi, đem lại sự
vui tươi để suy nghĩ an thần dưỡng trí, đem lại sức
khỏe cho con người, và để hiểu bản thể của con
người như: thịt, da, xương, máu và ngũ tạng.
Bàn về việc tu nó có lợi ích gì ?
Xét tận nguồn gốc của nó, ứng phó loại nào
hóa thành một khối vật chất, sanh sanh hóa hóa
điển quang có đủ màu sắc để thụ hưởng thiên
nhiên. Đất hóa sanh rồi giải tán bản thể thành đất
và trả lại cho đất. Nhưng đối với điển quang khi về
trên Thiên Không, không trả lại cho Thiên Không.
Thật sự ta thử hỏi bản thể là một cái ổ hay là
một cái nhà cho khí điển dựa nương để Hồn làm
việc.
Saigon, ngày 1 tháng 3 năm 1964
Đỗ Thuần Hậu
214 | Đỗ Thuần Hậu
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 215
HỒI THỨ NHẤT
Vào thời khai Thiên Lập Địa, lúc đó đã có đủ
Phật, Tiên, Thần, Thánh trên cõi Trời. Bầu trời
được phân ra nhiều từng, mỗi từng đều có Phật,
Tiên, Thần, Thánh và cũng có đủ núi non mây
nước. Lúc bấy giờ bầu trời giống như mặt đất ở thế
gian. Nước thì lại có hai thứ: một thứ lạnh sanh
nóng và một thứ nóng sanh lạnh.
Núi non cũng đủ màu sắc hoa quả, cây cỏ xanh
tươi như ở thế gian.
Tại đây, nơi Trung Thiên, từng trời sừng sững
dựng lên một dãy núi tên là Kì Lam Thạch cũng
gọi là Ngũ Hành Sơn. Triền núi cao chớn chở, đó
đây dây leo chằng chịt, chim ca vượn hí ngày đêm
để vui đón cảnh sống dậy của núi rừng.
Trong muôn điểu thú đang vui sống, có một
con chim tu luyện để biến thành chúa của muôn
loài chim trên non này.
Chim này to hơn đầu người, mặt mũi miệng tai
đều giống người. Mình chim phủ bộ lông xám
chơn và cánh chim gồ ghề trông kì dị. Tánh tình
và lời nói chẳng khác gì loài người. Chim tự xưng
là Điểu Sào Thiền Sư.
216 | Đỗ Thuần Hậu
Vào một ngày kia, Ngọc Hoàng Thượng Đế
triệu tập một cuộc gặp gỡ đầy đủ các vị Phật, Tiên
trong cõi Trời. Trong cuộc gặp gỡ này lại có Điểu
Sào Thiền Sư cùng các thú khác tuy tu chưa đúng
lực lượng, hình hài là thú vật, nhưng tâm họ là
Phật, Tiên nên được đến dự.
Ngọc Hoàng Thượng Đế phán rằng:
Điểu Sào Thiền Sư, ngươi phải xuống trần gian
để hoằng hóa chúng sinh.
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
Muôn tâu Bệ Hạ, xin Bệ Hạ cho tôi biến trở lại
hình người.
Ngọc Hoàng lại phán:
Tội nặng tội nhẹ và sự tu hành có đúng lực
lượng hay không tùy theo điển quang đục hay
trong. Tất cả đều được phán xét bằng một cây cân
công bình hay là Lượng Thiên Xích cũng gọi là
Niết Bàn. Khi nhà ngươi đến đó, tùy theo khả năng
công phu của nhà ngươi đã có, nhà ngươi sẽ bị nó
hút xuống trần gian, lúc ấy ngươi sẽ hiểu biết
những luật định; cân này của Đại Hội Phật Tiên
Thần Thánh phán xét nên không hề thiên vị một
ai cả. Kẻ có tội phải nhận lấy hậu quả mà mình đã
làm ra, nếu không tội sẽ được tăng, và cũng tùy
theo điển trong hay đục mà biểu quyết.
Sau khi phán xét xong, Thượng Đế truyền bãi
trào. Lúc ấy, bất ngờ Thiền Sư bị điển rút đến Niết
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 217
Bàn. Thiền Sư tự hỏi: "Ta đã bị tội gì mà sao ta lại
cảm thấy ngu dốt tối tăm trong lúc này?"
Điểu Sào Thiền Sư vội lấy điển làm phép trụ để
bay trở lại hỏi Ngọc Hoàng Thượng Đế cho rõ xem
mình đã bị tội gì mà phải đày xuống trần gian như
thế này. Khi Điểu Sào Thiền sư bay đến gần điện
Ngọc Hoàng thì bị điển triệt hạ, nên Thiền Sư
không thể tới được. Lúc đó Niết Bàn vận chuyển
đến con số của Điểu Sào tức thì Thiền Sư phải trở
lại Niết Bàn. Niết Bàn rút vô từng trong, xoay vần
các điển quang xáo trộn làm cho điển quang của
Điểu Sào Thiền Sư bận rộn và khiến cho tâm trí
của Thiền Sư bối rối bão bùng. Bỗng nghe một
tiếng sấm nổ vang trời vỡ đất, Điểu Sào Thiền Sư
bất tỉnh nhơn sự, mãi một lúc sau mới tỉnh lại.
Thiền Sư nhận thấy ta đây vẫn là Điểu Sào Thiền
Sư, hình tướng không đổi.
Thiền Sư tự hỏi:
Đây là nơi nào, chỗ nào đây? Không rõ nơi nào
là nơi nào?
Thiền Sư cất tiếng than rằng:
Ôi! Trời Đất cho ta một kiếp khổ như vầy, hình
tướng ta kì dị hơn người, ta phải làm sao bây giờ?
Sau khi nhìn kĩ xung quanh, chợt Điểu Sào
Thiền Sư ngạc nhiên và nói:
A! đây là cõi thế gian ta không còn chối cãi
nữa.
218 | Đỗ Thuần Hậu
Thiền Sư đứng dậy đi ít bước, người nhận thấy
cây cối xinh tươi, gai gốc chằng chịt khó bề đi lại,
mọi vật dụng gì của thế gian cũng là gai gốc, hễ
đụng chạm vào thân ta thì sẽ bị trầy trụa đổ máu,
nhức nhối khó chịu. Không hề có một vật gì hiền
hòa như ở trên cảnh trời trước kia ta đã sống.
Điểu Sào Thiền Sư ngước mắt lên trời than
rằng: "Ta đây là ai? Vì lỗi gì mà ta phải bị đày
xuống trần gian khổ cực như thế này! Kiếp này ta
đành chịu những sự đắng cay."
Lúc đó Điểu Sào Thiền Sư tự ăn năn thức tỉnh.
Thiền Sư mới quỳ xuống đảnh lễ Phật, miệng
thầm khấn vái:
Xin Phật ngài lấy đức từ bi ban bố phước lành
cho con ở tại trần gian, để làm việc hoằng hóa
chúng sanh cho tròn nhiệm vụ.
Khấn vái xong, Điểu Sào Thiền Sư ngó xuống
triền núi, đó đây đường xá quanh co hiểm trở, chợt
thấy một người phụ nữ đang đi lên. Vừa đến bên
Điểu Sào Thiền Sư, nàng liền chào và nói:
Tôi là người sống ở triền núi này, tu hành đến
nay được hai chục năm, hằng ngày tôi đi dạo khắp
đỉnh núi này, nhưng không thấy người nào lai
vãng đến đây. Nay tôi lại gặp được ông, có lẽ ông
là một vị chơn Tiên trên Thượng Giới giáng trần.
Điểu Sào Thiền Sư đáp:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 219
Mô Phật! Tôi xin đỡ lời cô, cô kính trọng tôi
quá lẽ.
Cô Ni vừa cười vừa nói:
Xưa nay hễ là dị tướng tất hữu kì tài, cũng bậc
chơn Tiên, nào phải ngạ quỷ súc sanh mà được đủ
nguyên hình giáng thế. Xin ông cho biết tên,
phẩm và bửu hiệu của ông.
Đoạn Cô Ni lại tiếp:
Dầu Ngài là bậc Tiên đi nữa, thế gian gọi đến
cũng phải cho rõ chơn như.
Lúc ấy Thiền Sư hơi ngạc nhiên, nhưng không
thể từ chối được. Thiền Sư vừa niệm Phật vừa trả
lời:
Thật thế, ta là Điểu Sào Thiền Sư, từ cõi Trung
Thiên giáng thế, ta xin chào Cô Ni.
Đoạn Thiền Sư mỉm cười nói:
Xin cô cho biết pháp danh bửu hiệu.
_ Ta là A Hương Cô Ni.
Thiền Sư ngẫm nghĩ một chập:
Lúc trước ta có đi bên cảnh trời Tây và đã nghe
nói đến tên cô này, nhưng không biết phải nàng
đây không? Người thật giống người, tên lại trùng
tên, làm sao ta phân biệt được?
Bỗng đâu từ các ngã rừng, chim chóc và muôn
loài cầm thú tiến đến bên Điểu Sào Thiền Sư để
dâng bông trái. Thiền Sư Mô Phật và nói rằng:
220 | Đỗ Thuần Hậu
Đây là cõi thế gian cũng đầy bông trái như trên
Thiên Đàng. Ta xin mời Cô Ni cùng ta làm lễ phạn
thực cho vui.
Lúc đó Cô Ni không dám từ chối và khẽ mỉm
cười: "Mô Phật, em xin vâng."
Cô Ni vừa ngồi trên bực thạch vừa thi lễ. Điểu
Sào Thiền Sư đáp lễ và liếc mắt để nhìn hình dung
tuấn tú, ăn nói đoan trang. Cô Ni mặt tròn, miệng
rộng, đôi mắt phân minh, đầu đội mô ni màu đen,
mặc áo kim sa trông thật yêu kiều thùy mị.
Điểu Sào Thiền Sư khẽ nói:
Ta tuy tu hành đã lâu mà cũng còn mê sắc ái
tình. Đoạn Điểu Sào Thiền Sư than rằng: tại sao ta
tu đến nỗi này mà còn mê trần lắm thay, nhưng
trong kinh nhà Phật có câu: "Sắc bất dị không,
không bất dị sắc, thọ tưởng hình thức, diệt phục
như thị" cũng có nghĩa là: Phật, một bậc trên
không, xem hình thức cũng còn mê sắc như ta,
còn ta bị đày xuống trần gian, mang xác thịt,
tránh sao cho khỏi bụi trần.
Điểu Sào Thiền Sư mô Phật và nói:
Thưa cô, cô có đôi bạn chưa? Và thanh xuân đã
mấy?
Đoạn ông tiếp:
Ở trần phải lo cho trần, tại sao cô nương lại tu?
Hay là cô nương cùng ta chung lo xây dựng một
gia đình tại trần gian đi! Sách có câu cư trần
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 221
nhiễm trần, còn sự tu hành ta vẫn cứ tu. Đời đạo
song tu cho phương tiện, nhưng chúng ta là căn
Tiên, cốt Phật biết luyện tánh sửa mình, cũng có
thể trừ mùi tục lụy. Nhiễm thì cũng nhiễm đành
rằng chúng ta cùng mang bịnh nhiễm trần, ta nhớ
lại Pháp Lí Vô Vi Khoa Học Huyền Bí của Đức Di
Đà có phân rằng: "Chúng sanh có điều chi bị trần
lôi cuốn, ta sẵn có khoa học gọi là Pháp Luân
Thường Chuyển, chúng sanh theo pháp ấy mà rèn
luyện, mọi bịnh lần lần sẽ thuyên giảm."
Cô Ni nghe nói dứt lời, liếc mắt nhìn Thiền Sư
và thầm nghĩ:
Người này sao giống người chồng của mình khi
trước, duy có hình thể khác thường, người không
tay lại có cánh, chân tựa chim.
Nói đoạn, Cô Ni thầm nhớ lại trước kia mà lòng
bán tín bán nghi. Điểu Sào Thiền Sư cũng nhìn kĩ
lại người đối diện với ông, thấy sao nàng giống vợ
mình khi trước, đoạn ông khẽ hỏi:
Chẳng biết cô nương được mấy người con, và
sao lại góa chồng?
Cô Ni liếc mắt mỉm cười và trả lời:
Nếu tôi nói ra hình như tưởng tượng rằng, vì
trong lúc ấy lòng tôi bối rối quá nên không tin
được chắc chắn, nhưng tôi cũng kể lại đây cho
Thượng Tiên rõ. Ngày xưa tôi ở tại cảnh trời Tây,
Phật cho tôi làm việc coi về xe sấm, thừa lệnh
222 | Đỗ Thuần Hậu
Thượng Đế chỉ bảo, tôi tên là A Hương, bạn tôi là
Cam Lâm Bửu Hiệu. Em chồng tôi là Cam Chi
Thượng Tiên làm thần mưa gió dưới thế gian này.
Rồi một hôm bão bùng vang dậy, tôi nghe nơi
Thiên Không điển quang chớp nhoáng, rồi một
tiếng nổ vang trời dậy đất, bỗng chồng tôi và em
chồng tôi bị giải tán rồi lạc lối không biết đi hướng
nào. Còn tôi và bốn đứa con sa xuống nơi triền núi
Kì Lam này. Ở đây hằng ngày tôi tu luyện theo
Khoa Học Huyền Bí của Di Đà, nguyên sáu chữ
Pháp Môn và được phân ra làm ba giai đoạn như
sau:
Nam Mô là sơ thừa, thuộc về sự hoạt động của
tay chơn.
A Di là trung thừa, thuộc về ngũ tạng và bản
thể.
Đà Phật là thượng thừa thuộc về bộ đầu.
Ở nơi này hằng ngày tôi và bốn đứa con của tôi
đồng luyện Pháp Môn chơn truyền của Đức Phật.
Cô Ni vừa dứt lời thì mặt trông buồn bã, nhớ
chồng rơi nước mắt. Điểu Sào Thiền Sư buông lời
khuyên nhủ:
Từ Tiên Phật đến người ở thế gian, đâu đâu
cũng có sự buồn vui. Dưới trần thế, ở trên mặt đất
phù sanh này chúng ta còn xác trần làm sao thoát
khỏi.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 223
Sau khi gạn hỏi rõ ràng, Điểu Sào Thiền Sư vội
nói:
Xin cô Tiên cho tôi được biết bốn người con
của cô Tiên bửu hiệu là gì, để tôi có thể hiểu biết
được căn nguyên.
Cô Ni mặt rầu rầu:
Bạch Hóa Tiên Trưởng, những đứa con của tôi
ở trong bốn góc núi này. Thường ngày chúng tu
luyện hóa phép nhiệm mầu của chư Tiên Bồ Tát.
1. Đứa thứ nhất tên là Kim Thiền Sư Trưởng,
ở hướng mặt trời mọc.
2. Đứa thứ hai ở hướng mặt trời lặn, bửu hiệu
là Đà Ra Ni Đế Tiên Trưởng Bồ Tát, tên là Dương
Thủy Bồ Tát.
3. Đứa thứ ba ở phía Nam, bửu hiệu là Đà La
Bát Đa Đại Bi Tiên Trưởng Bồ Tát, tên là Nguyên
Thủy Chân Trưởng.
4. Đứa thứ tư ở góc núi phía Bắc, bửu hiệu là
Chi Ri Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, tên là Âm
Thủy Dương Phu.
Cô Ni vừa dứt lời thì Điểu Sào Thiền Sư bật
khóc, vừa dơ tay ôm lấy đầu Cô Ni. Cô Ni vội đỡ
tay Điểu Sào và hoảng hốt nói rằng:
Không! Thoái tu hành Phật hạnh, xin ngài hãy
bình tĩnh để tôi hiệu triệu bốn đứa con tôi trở lại
đây để chúng ta cùng nhau hiểu biết, xin người
chớ nên nóng tánh vội vàng mà lầm lỗi lạc đường.
224 | Đỗ Thuần Hậu
Khi ấy Thiền Sư ngồi lại và nói:
Mô Phật, tôi xin lỗi và mong Cô Ni tha thứ cho.
Chúng ta là người tu hành, mà tôi thì tánh nóng
nảy quá, nên lắm lúc cũng cảm thấy phiền phức
cho tôi nữa.
Cô Ni niệm chú gọi điển, tức thì có bốn vị Phan
Vương xuất hiện và đồng thưa:
Mô Phật! Bạch mẫu thân, mẫu thân đòi chúng
con đến có việc chi dạy bảo, xin cho chúng con
được rõ.
Cô Ni vừa mô Phật vừa nói:
Chúng con có biết thân phụ của chúng con là
ai không?
Đoạn A Hương chỉ Điểu Sào Thiền Sư và nói:
Đó người ngồi chóp núi kia có phải là thân phụ
của chúng con không?
Bốn vị Phan Vương đồng liếc mắt và nhận thấy
mặt thì giống, còn hình tướng thì dị thường. Bốn
vị Phan Vương đồng nói:
Chúng con không thể nhận được, nhưng chúng
con nhớ lại, trước kia lúc thiên ám địa hôn, nghe
trên trời có tiếng nổ thì chúng con có thấy đầu của
thân phụ chúng con bay bổng, còn thân hình thì
tan ra. Xác cha con biến thành đất trong núi này
bị đá đè ép. Lúc ấy chúng con vẫn tu hành và
luyện phép, nào là di sơn đảo hải, nào là khởi xe
phong hỏa. Chúng con học được nhiều phép huyền
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 225
diệu vô song. Phép này do Tra Ra Di Đế võ Phật
chỉ dạy cho ông ở động Kì Lam Sơn trong quả núi
này. Ông đã giáo hóa chúng con tính ra đã hai
mươi năm nay rồi.
Cô Ni nghe con học được phép nhiệm mầu
không khỏi mừng rỡ và khen rằng:
Nay chúng con học được phép mầu nhiệm, mẹ
không dấu được nỗi mừng và mong rằng, sau này
các con đem các phép ấy để an bang trợ quốc.
Đoạn Cô Ni vừa cười vừa tiếp:
Còn Điểu Sào Thiền Sư có phải là cha chúng
con không?
Kim và Mộc Đại Vương cùng nói:
Phép Tiên biến hóa vô cùng, vì thế xem mặt
thì giống cha con, thân thể không cần biết. Khi
chúng ta luyện đạo thấu được huyền bí thì màu
sắc năm loại ta cũng biến hóa như ai. Sao lại
không tin! Nếu ai không nhìn người ấy là cha thì
phải tội bất hiếu.
Lúc ấy Thủy và Hỏa Phán Vương đồng nói:
Bất hiếu hay không gì cũng được, chúng mi có
giỏi thì tranh tài cao thấp cùng ta để biết phép của
ai huyền diệu hơn ai, ta không nói nhiều lời vô ích.
Trước mặt mẫu thân, ta xin đấu phép, không kể
thứ tự huynh đệ, nếu ai thắng là anh, ai bại là em.
Nghe nói vừa dứt lời, Kim và Mộc Đại Vương
liền phóng dây thiết tả thiên ám đại hôn, trời gầm
226 | Đỗ Thuần Hậu
đất chuyển bão bùng dữ dội; còn Thủy và Hỏa Đại
Vương đọc chú hóa thành kim tinh nước lụt tràn
trề, phi sa tẩu thạch, giết hại sinh linh rất nhiều.
Trong ba ngày ba đêm, thấy nào là lửa nhoáng bao
la trời đất, thấu đến Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngài
mới sai Già Lam Quan Tể và Kim Thiền Sư Tử
giáng trần xem coi kẻ nào làm loạn.
Khi hai vị đi được nửa đường, chợt thấy nào là
những vị Táo Quân cầm tờ phúc trình cùng Thổ
Địa Thần Kì vừa đến trước mặt Già Lam Quan Tể
và Kim Thiền Sư Tử bạch rằng:
Chúng tôi đến báo cáo và phúc trình rất trễ,
cúi xin Phật Ngài tha thứ.
Già Lam Quan Tể phán hỏi rằng:
Chúng ngươi ở dưới này có biết mấy vị yêu nào
làm náo động Thiên Cung mà Thượng Đế phải
triệu ta xuống trần để thâu hồi các phép huyền vi
của yêu tinh làm loạn?
Lúc ấy Táo Quân, Thổ Địa Thần Kì đồng tấu:
Điểu Sào Thiền Sư tu hành theo Văn Phật
Thích Ca Mâu Ni. Ngài chí tâm luyện tập công phu
cực đoan cực chánh, bởi sự có ý tu hành nên thâu
được điển trên bộ đầu, thường đêm dạo khắp Bồng
Lai rồi mê nơi cảnh Trời không chịu trở về. Còn
bản thể bỏ lại nào là thịt da xương máu đều bị tan
rã, nhưng những vật ấy trước kia cũng tu theo lối
của Điểu Sào Thiền Sư chỉ phán, nên cốt giác còn
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 227
tại trần, nên chất ấy hóa thành yêu. Chúng hóa
phép vô song, ngày đêm biến hóa bão bùng nguy
hiểm thường làm hại sanh linh rất nhiều.
Già Lam Quan Tể và Kim Thiền Sư Tử hội ý:
Vụ này chúng ta phải xuống núi Kì Lam Thạch
bảo Điểu Sào Thiền Sư thâu hồi các phép ấy mới
được.
Lúc ấy Già Lam Quan Tể cùng Kim Thiền Sư
Tử chợt ngó thấy trên trời có một vị Tiên giáng
trần, tay cầm gươm bay xuống trước mặt Già Lam
quỳ bạch rằng:
Tôi là Châu Xương đang gác tại cửa trời thấy
Phật ngài giáng thế, tôi liền xin phép Thượng Đế
xuống trần theo thầy để trợ giúp cho chúng nhơn.
Khi ấy Già Lam nói:
Thằng mọi này làm rộn quá, lúc nào có lịnh gọi
Châu Xương mới được theo ta. Mi lỗi lầm lần thứ
nhứt ta tha cho.
Kim Thiền Sư Tử bạch với Già Lam:
Cũng rất may có thằng mọi râu ria này, chúng
ta bảo nó giữ những Táo Quân Thần Kì Thổ Địa và
ban cho nó ba phép Công Cô để trấn giữ những vị
này ở núi Kì Lam đợi khi nào ta làm xong nhiệm
vụ ta sẽ tra hỏi những vị có lỗi đó.
Già Lam Quan Tể đồng ý và làm phép kim tinh
tại nơi chót núi này. Ông liền hô chú:
- Nhứt bút hóa thành Tiên,
228 | Đỗ Thuần Hậu
- Nhị bút hóa thành Địa,
- Tam bút hóa thành Giang Hà,
- Tứ bút hóa thành Kim Tinh.
Lúc ấy Châu Xương thấy trên Kì Lam Sơn có
một thạch động liền dắt ba phạm nhơn vào trong
và đóng cửa lại. Đoạn Châu Xương trấn gác nơi
cửa động (muốn biết ba phạm nhơn tội lỗi thế nào,
xin xem hồi sau phân giải).
Già Lam Quan Tể và Kim Thiền Sư Tử đọc chú
thâu các phép tà yêu, những phép ấy đã lộng hành
sát hại sanh linh. Khi đọc xong bốn câu chú Tứ Cú
Kim Cang thì các pháp bão bùng nguy hiểm, tẩu
thạch phi sa, thủy lục không quân đều bị giải tán.
Mây tạnh mưa tan, trời đất trở lại thanh bình, bốn
vị tà yêu quy nguyên hoàn cốt. Khi hai vị Bồ Tát
thâu xong phép đến an nghỉ nơi đỉnh Kì Lam Sơn,
đồng thời gọi Điểu Sào Thiền Sư, Cô Ni và bốn vị
Phan Vương để xem xét coi sự thể ra sao mà bốn
vị tà quái này đã làm động đến Thượng Đế. Khi
mọi người đã đến đông đủ, Già Lam Quan Tể và
Kim Thiền Sư Tử gọi Điểu Sào Thiền Sư và phán
hỏi:
Sư thật phải khai, tại sao xảy ra chuyện này?
Điểu Sào Thiền Sư quỳ lạy và bạch:
Thưa hai ngài, đây là sự thật. Khi con tu luyện
theo phép Tiên Gia, học đạo làm phép Soi Hồn,
Pháp Luân Thường Chuyển cùng Định Thần. Với
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 229
phép Soi Hồn con đã thâu được điển vào bộ đầu.
Con không muốn ở lại thế gian một lần thứ hai
nữa, vì thế gian là nơi kẻ mạnh hiếp yếu, tham sân
si hỉ nộ ái ố dục, con mang xác trần làm sao con
chịu mọi sự chua cay chát đắng mặn nồng. Bởi thế
con có luyện theo Phật để thâu điển hóa thành
Mâu Ni Châu hầu trở về cõi Thiên Đàng, được bay
lên Bồng Lai, du san ngoạn thủy, mải mê cảnh
Thiên Đàng đẹp đẽ cho nên con đã quên trở về thế
gian, đành bỏ bản thể lại ở núi Kì Lam Sơn này và
cả gia đình gồm có Cô Ni là vợ chánh, bốn đứa
con, cùng da thịt xương máu. Con đã bị tội lỗi
tham muốn cho nên con tu chưa thành chánh quả,
nhưng con cũng cố gắng công phu trên bộ đầu và
được phép hóa thân. Chư Tiên thường gọi con là
Điểu Sào Thiền Sư. Khi con bị Niết Bàn lôi cuốn
trở về trần gian thì vợ chánh cùng bốn con không
rõ đầu đuôi nên không nhìn nhận con là cha, là
chồng của chúng. Lúc ấy, vợ con cho gọi bốn đứa
con đến trước mặt vợ chồng con để cùng nhau tìm
hiểu rõ sự thật, nhưng bốn đứa con ấy tu theo
phép Đà Ra Ni Đế biến hóa tà mị, rồi cùng nhau
tranh tài cao thấp để khoe giỏi tài hay nên mới ra
cơ sự này.
Khi ấy Già Lam Quan Tể và Kim Thiền Sư Tử
gọi bốn vị Phan Vương lại phán rằng:
230 | Đỗ Thuần Hậu
Điểu Sào Thiền Sư có phải là cha chúng bây
không?
Kim Thiền Sư Trưởng cùng Dương Thủy Bồ Tát
nhìn nhận. Còn hai vị Nguyên Thủy Tiên Trưởng
và Âm Thủy Dương Phủ không nhận. Lúc ấy Già
Lam Quan Tể cùng Kim Thiên Sư Tử phán rằng:
Nếu chúng bay cứ nghi ngờ mãi thì ta sẽ làm
phép theo thế gian cho rõ sự thật, phép này gọi là
phép chích huyết.
Đoạn Kim Thiền Sư Tử lấy dao rạch trên đầu
Điểu Sào Thiền Sư lấy huyết để vào chén chung
cùng huyết bốn người con thì những huyết ấy hòa
hợp với nhau không phân tách. Khi Già Lam Quan
Tể chỉ cho bốn vị Phan Vương nhận thấy sự phụ
tình máu huyết rõ ràng là chúng hòa tất cả. Bốn vị
Phan Vương cùng quỳ đảnh lễ Già Lam Quan Tể
cùng Kim Thiền Sư Tử và nhìn nhận sự tội lỗi,
đồng thời chúng cũng đảnh lễ Điểu Sào Thiền Sư
và xin gọi là thân phụ vì sự thật không còn chối
cãi nữa. A Hương Cô Ni thấy thế liền khóc thét lên
và hỏi bốn vị Phan Vương:
Chúng con ngày nay đã rõ sự thật, mẹ dạy nên
tránh tranh hùng tài hay phép giỏi, làm náo động
đến Thiên Cung, lỗi ấy thật là tày trời.
Bốn vị Phan Vương khóc to lên và nói:
Chúng con mang tội bất hiếu vì không nghĩ
đến cha mẹ, tưởng là có phép thần thông huyền
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 231
diệu nên quên tình ruột thịt xương máu, đánh giết
lẫn nhau, vì bốn con ngỗ nghịch không tuân lời
cha răn mẹ dạy nên ngày nay mới đến nỗi này.
Lúc ấy Già Lam Quan Tể hỏi Kim Thiền Sư Tử:
Nay chúng ta đã dẹp an lũ quỷ này, nên để cho
Ngọc Hoàng Thượng Đế và Quan Thế Âm Bồ Tát
phán dạy, thì dằng dai làm gì. Ngày giờ đã trễ lắm
rồi, vậy chúng ta phải tính làm sao?
Kim Thiền Sư Tử nói:
Sách Thánh có nói, hễ trị thì phải an, an thì
phải tịnh, tịnh thì phải bình trị. Từ xưa đến nay
chỉ thế thôi. Vậy Già Lam Quan Tể có đồng ý
không?
Già Lam Quan Tể tán đồng ý kiến của Kim
Thiền Sư Tử. Kim Thiền Sư Tử liền làm phép trụ
thần, quy chơn hườn nhứt, mới kêu Điểu Sào
Thiền Sư mà cho biết rằng:
Người là Hồn, còn Cô Ni A Hương là Vía, cả hai
cùng coi trong bản thể con người. Bản thể cũng
như một nước mà Phật đã cho mọi người thế gian
đều có, còn da thịt xương máu là con của chúng
ngươi làm ra. Vậy những sự làm ra của con chúng
ngươi thì chúng ngươi phải gánh chịu. Sách có
câu: "Tử bất giáo phụ chí hóa", nghĩa là bổn phận
làm cha mẹ không dạy con thì ngươi có lỗi chớ
phải nào tại con của hai ngươi. Còn có sự tranh
hùng là vì vợ chồng con đã tu ở chốn thiền lâm,
232 | Đỗ Thuần Hậu
con đã hiểu lầm quan niệm sai lầm là tu thì phải
bỏ nhà cửa vợ con vô chùa tu mới được, thật là vô
lí. Nếu một loại người không chồng, không vợ,
không âm dương làm sao sanh hóa nòi giống? Thế
sự cơ cầu. Người mẹ trần có nói:
"Dù họ đạo nào không vợ con.
Vợ con đâu có đạo đâu còn."
Tu như vậy là ích kỉ, không bổ ích cho nhơn
loại. Nói bao nhiêu, chắc hai ngươi có tu có thể tự
hiểu lấy. Nay ta chỉ thiệt, hai ngươi hãy quỳ xuống
đây nghe những lời vàng ngọc, Pháp Lí phân bày
đưa ra ánh sáng, đừng lầm lạc mà bị hại. Sách có
câu:
"Hiếu tâm tất Phật tâm.
Hiếu hạnh tất Phật hạnh."
Tu là tại nơi tâm của con người cùng trí ý mà
thôi. Chữ tu là trau dồi sửa đổi tâm trạng ta, trong
bản thể ta đều có đủ như một nước ở ngoài thế
gian. Nó có tám muôn bốn ngàn bảy trăm lỗ chơn
lông. Mỗi một sợi lông là một tên dân trong nước,
còn da thịt bao bọc thịt xương gân làm cốt giác
cho huyết là một chất lỏng để cho điển làm việc.
Nóng và lạnh thay đổi rõ ràng không sai sót từ li
từ tí phút khắc nào, rồi trong đấy có xương sườn,
xương sống, xương chân tay gọi là bản thể. Đó là
cái nhà của vợ chồng hai ngươi mà Trời Phật, cha
mẹ là những người đã tạo ra, gọi là bản thể. Trong
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 233
phần cái nhà đó có ngũ tạng gọi là cơ quan nội
dung. Cơ quan nghĩa là cái máy để lo cho bản thể
con người, ăn, ngủ, ỉa. Trong đấy có năm thứ điển
ngũ sắc, nhưng rốt cuộc gom lại chia đôi là điển
nóng cùng điển lạnh. Điển chạy theo mấy đường
gân trong bản thể gọi là làn sóng điện, bổ túc đủ
lực lượng mạnh yếu, sự hiểu biết của nó để làm
việc cho bản thể. Còn Hồn hay là Vía của hai vợ
chồng ngươi có nhiệm vụ sau đây: Hồn coi về Trí
Ý làm chủ tất cả bản thể (là một nước). Vía cũng là
phụ thuộc bên trong với Hồn có nhiệm vụ xem xét
bao la bên ngoài giữ cái máy tay, chân, mắt, mũi,
di động để cho Hồn làm chủ sai khiến.
Già Lam Quan Tể cùng Kim Thiền Sư Tử kêu
Điểu Sào và A Hương mà phán rằng:
Vợ chồng ngươi làm chủ trong nhà hay là nước
của chúng con, tại sao Điểu Sào Thiền Sư mới vừa
tu đáng phẩm Chủ Nhơn Ông, công cán công phu,
sức lực được vào phẩm bực yêu tinh thế mà sao lại
đến được từng trời Trung Thiên. Vì Phật ngài thấy
chúng con cố ý tu hành theo Phật Tiên, nên Phật
ngài khoan hồng cùng chư Tiên nới rộng để cho
chúng con được hưởng thụ tạm chốn Bồng Lai là
Trung Thiên Tiên Cảnh. Ngươi là Điểu Sào lại mê
chốn Bồng Lai quên bản thể (là một cái nhà tù
đày) của chúng con nên con mới phạm chữ li gia
cắt ái, bỏ bản thể đã lâu lắm rồi, con bị tội xuống
234 | Đỗ Thuần Hậu
trần gian, rồi mê trần. Con có biết nhà cửa vườn
đất là sự vật của thế gian? Còn vợ chồng con trước
kia ở Thiên Đàng bị tội sa xuống trần gian vào nơi
bản thể nhơn tạo (nhơn tạo là cha mẹ của bản thể
con) mà ngày nay con được cư trú nơi ấy, và làm
chủ tất cả trong bản thân con. Hiện nay vợ chồng
con chắc đã biết vì sao chúng con đã tu hành
trong hai mươi năm mà không minh và hiểu như
thế?
Lúc ấy vợ chồng Điểu Sào bạch rằng:
Vợ chồng con đã hiểu, bản thể là nhà của
chúng con cư trú, đồng thời cũng là một cái nhà tù
mà trong đấy có cái khám là trái tim cùng trái cật.
Nơi đó vợ chồng con nắm chánh chủ quyền để đền
tội tiền căn hậu quả mà trước vợ chồng con ở
Thiên Đàng ham chơi trễ nải lúc Thượng Đế Bồ
Tát hội nghị. Lỗi ấy bị tù đày sa xuống trần gian,
nhưng vợ chồng con lấy cái minh trí sáng suốt,
muốn trở lại quê hương nơi Thiên Đàng mới tu
nhưng không được kết quả, nên hai vợ chồng con
đảnh lễ hai Bồ Tát, xin hai ngài lấy đức từ bi hỉ xả
cho con nhờ.
Lúc ấy Kim Thiền Sư Tử cùng Già Lam Quan
Tể đồng nói:
Đến nay chúng con đã đồng ở lại thế gian này
chưa được hườn nhứt tăng phước thọ, nên ta phải
làm phép thất nhựt cứu dương tinh và tứ thập cửu
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 235
thâu hồi ngươn khí, thủy hỏa ký tế cùng bá nhựt
trúc cơ thống nhất mới được hườn hồn tăng phước
thọ vô cực vô biên.
Lúc ấy Kim Thiền Sư Tử cùng Già Lam Quan
Tể bố phép vô cực Niết Bàn, bát chánh thâu hồi,
đồng thời bản thể của Điểu Sào Thiền Sư tụ
nguyên hình gom tất cả toàn thân nguyên tụ, mới
kêu Điểu Sào Thiền Sư nói tiếp:
Thôi Thiền Sư hãy ở lại đây, ta cùng Già Lam
Quan Tể đem bọn Thổ Địa Thần Kì cùng Táo Quân
giải đến Quan Âm Bồ Tát để Ngài định liệu tội ác
của đám thực dân này; còn Điểu Sào Thiền Sư ở
lại đây đủ một trăm ngày, đợi ta sẽ phân phán.
Đây là phần thứ hai thừa tiếp sự phân giải, sự
minh triết rõ ràng cùng dạy cho Điểu Sào Thiền
Sư để phổ hóa chúng sanh tại thế gian.
Vào thế kỉ thứ 20, năm 2001, để biểu quyết
khoa học huyền bí của Đức Thích Ca và Đức Di
Đà, Quan Âm Bồ Tát cùng Đức Di Lạc phổ biến
truyền đạo minh mẫn hơn, và vào lúc này con
người ở thế gian đủ sức khỏe, ít bịnh hoạn, đánh
đuổi tà tinh trong bản thể con người. Lúc ấy, Kim
Thiền Sư Tử cùng Già Lam Quan Tể đồng hành
đến Trung Thiên, vào động Quan Âm Bồ Tát đảnh
lễ.
Quan Âm hỏi:
236 | Đỗ Thuần Hậu
Hai người xuống trần thế trừ loài yêu quái làm
hại chúng sanh, nay đã xong chưa?
Kim Thiền Sư Tử và Già Lam Quan Tể kể lại
đầu đuôi tự sự cho Quan Âm rõ.
Quan Âm Bồ Tát phán rằng:
Việc này, để đến khi Ngọc Hoàng Thượng Đế
lập Đại Hội có đủ mặt Thần Tiên và có cả Long
Hoa Giáo Chủ Di Lạc sẽ được đem ra xét xử. Còn
hai ngươi làm pháp Trúc Cơ hườn nhứt xong
chưa?
Kim Thiền Sư Tử và Già Lam Quan Tể quỳ
xuống bạch:
Thưa ngài, chúng con đã làm xong nhiệm vụ.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Thôi hai ngươi về động an nghỉ, để đến ngày ta
sẽ bố cáo tiếp, làm hội nghị cho Niết Bàn thâu hồi
nguyên khí, nhẹ nặng phân xử chúng nó nhờ.
Khi Quan Âm dứt lời, Kim Thiền Sư Tử và Già
Lam Quan Tể bái biệt ngài bay trở về thạch động.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 237
HỒI THỨ HAI
Gần lúc Trung Ngươn, rằm tháng bảy, Trời Phật
xét sổ bộ Thiên Đàng và Âm Phủ để phán xét
những tội nhân. Những tội nào nhẹ được tha bổng,
còn tội nặng được kết thúc. Hôm ấy cũng là ngày
Ngọc Hoàng Thượng Đế hội quần Tiên. Trong cuộc
Đại Hội Ngài thấy vắng Già Lam Quan Tể, Kim
Thiền Sư Tử, Châu Xương. Ngài mới hỏi tại sao ba
vị trên vắng mặt không dự Đại Hội?
Ngụy Trưng đứng lên dùng huệ nhãn nhìn
xuống trần gian, biết ba vị thiếu mặt vì phải tuân
lời Ngọc Hoàng Thượng Đế để tra xét vụ Điểu Sào
Thiền Sư. Ngụy Trưng liền quỳ xuống tâu với Ngọc
Hoàng tự sự trước sau. Ngọc Hoàng Thượng Đế
liền chiếu điện gọi tức thời nào là Già Lam Quan
Tể, Kim Thiền Sư Tử và Châu Xương quỳ đảnh lễ
và tâu rằng:
Chúng con được lịnh xuống dương thế để xét
xử vụ Điểu Sào Thiền Sư từ Thượng Ngươn nay đã
đến Trung Ngươn nhưng vẫn chưa xong, thật là
đắc tội về bất năng thân xuất, nhưng thưa Ngài sự
trễ nải ấy mà có là tại vì chúng con phải mất hết
ba tháng để làm phép hườn hồn cho Điểu Sào
Thiền Sư, còn lại ba tháng chúng con làm việc
238 | Đỗ Thuần Hậu
ngày đêm cho kịp ngày Trung Ngươn bảo tấu,
muôn tâu Ngọc Hoàng Thượng Đế tha thứ về tội
chúng con đãi đọa.
Ngọc Hoàng Thượng Đế phán:
Hôm nay, trước mặt quần Tiên dự phiên nhóm
bất thường, ta tha thứ cho ba ngươi khỏi lâm vào
Niết Bàn. Vậy ba ngươi phải trở xuống trần gian,
tra xét vụ Điểu Sào Thiền Sư cho cặn kẽ. Các
ngươi có quyền tha thứ hoặc thưởng những việc
không quan trọng.
Kim Thiền Sư Tử, Già Lam Quan Tể và Châu
Xương đảnh lễ Ngọc Hoàng cùng các Tiên, đoạn
xin phép xuống trần gian công tác. Khi ba vị đến
cõi trần liền cho gọi Táo Quân, Thổ Địa Thần Kì,
Thần Hoàng Bổn Cảnh đến để xét xử. Hai ông
thẩm phán là Kim Thiền Sư Tử, Già Lam Quan Tể
cùng Châu Xương ngồi tòa tam đẳng phán rằng:
Thành Hoàng Bổn Cảnh, ngươi hãy đem sắc
phong để trình tấu.
Bổn Cảnh Thành Hoàng quỳ xuống tâu:
Trước kia, dưới triều vua Dương Thế Tôn, nhà
vua phong chức cho tôi mà chưa phong sắc.
Hai vị thẩm phán phán:
Châu Xương, ngươi hãy vật Thành Hoàng Bổn
Cảnh đánh cho nó ba mươi hèo, về tội làm tới chức
Thành Hoàng Bổn Cảnh không phải nhỏ mà lại
không có sắc.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 239
Thành Hoàng Bổn Cảnh vì không có sắc, nên
đành để cho Châu Xương phết đủ ba mươi hèo.
Chịu đòn xong, Thành Hoàng Bổn Cảnh mới tâu
với hai vị thẩm phán rằng:
Muôn tâu cùng hai ngài, trước kia con là người
lính phò tá nhà Vua. Nhiệm vụ của con chỉ biết
quạt hầu rót nước. Con là một tên lính ngu dốt,
nhưng Vua thấy con lớn tuổi già cả, nên ngài cho
con là Kì Bài Quan. Với chức này con chỉ có nhiệm
vụ biểu tấu cho vua, ngoài ra về hành quân công
tác thì con không được biết đến. Lúc con mãn
phần, vua cho đứt con cai trị một phần rừng núi
xa xôi, không người lai vãng này. Con được toàn
quyền hành động. Khi con cai trị vùng rừng núi
này, con thấy Táo Quân, Thổ Địa Thần Kì cũng là
người hiền lành tu niệm nên con cho phép họ làm
những chức ấy. Con đã làm công tác với những vị
này để tuần du tế sát, xem xét ma quỷ quái nơi
đây.
Khi ấy hai vị thẩm phán sai Châu Xương trở về
Thiên Đàng vận chuyển Niết Bàn để xem tội lỗi
của Thành Hoàng Bổn Cảnh ra thế nào và sự công
tác của Thành Hoàng có thật hay không.
Được lệnh Châu Xương liền phóng một luồng
điển bay đến Niết Bàn. Một lúc sau Châu Xương
trở về và tâu cùng hai vị thẩm phán:
240 | Đỗ Thuần Hậu
Sự cộng tác của Thành Hoàng Bổn Cảnh quả có
thật.
Tức thời hai vị thẩm phán hỏi Thành Hoàng
Bổn Cảnh:
Ngươi làm chủ nơi đây, hưởng lương như thế
nào? Còn Thổ Địa Thần Kì, Táo Quân làm việc
cho ai? Lương ai phát?
Thổ Địa Thần Kì, Táo Quân đồng tâu:
Chúng tôi làm việc và ăn lương của Thành
Hoàng Bổn Cảnh.
Châu Xương đứng lên tra vấn:
Khi bọn nhà ngươi cai trị trong khu này, các
ngươi có làm ruộng rẫy gì không?
Bốn vị đồng tâu:
Chúng tôi mắc làm việc cho Bổn Cảnh Thành
Hoàng nên không có thì giờ để làm ruộng.
Già Lam Quan Tể nói:
Các ngươi làm việc, ruộng đã có sẵn mà không
chịu làm ăn. Các người mải làm sâu mọt nhiễu hại
dân lành. Quả là một bọn thực dân.
Bổn Cảnh Thành Hoàng, Táo Quân, Thổ Địa,
Thần Kì quỳ tâu:
Chúng con nhận thấy những tội lỗi như mê
trần, tham sân si hỉ nộ ái ố dục, chúng con đều
mắc phải. Mong các ngài thương tình lượng thứ
nhứt phen.
Kim Thiền Sư Tử phán:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 241
Tội của các ngươi đáng bị tù, nhưng chúng ta
tha thứ cho lần thứ nhứt, từ rày về sau phải ăn
năn cải ác làm lành. Hôm nay ta chỉ phạt đánh đòn
Thành Hoàng Bổn Cảnh ba chục côn thôi. Sau khi
chịu tội các ngươi trở về phải làm việc y như cũ,
hễ ai ráng tu hành thì sau này được thưởng, còn ai
quen thói xấu làm điều quấy thì sau này ta sẽ phạt
lưu đày.
Đoạn Kim Thiền Sư Tử tiếp:
Già Lam Quan Tể và Châu Xương, hai ngươi
mau trở về Thiên Đình biểu tấu cùng Ngọc Hoàng
Thượng Đế rằng: "Vụ Thành Hoàng Bổn Cảnh, Táo
Quân, Thổ Địa Thần Kì xét xử đã xong. Ta đã cho
chúng nó làm việc lại như xưa, và dân chúng ở nơi
này từ đây được thanh bình, mùa màng tươi tốt.
Còn vụ Điểu Sào Thiền Sư độ chừng mười ngày
nữa có lẽ ta sẽ xét xong, chừng đó ta sẽ về biểu
tấu sau."
Đây nói về Điểu Sào Thiền Sư, nay đúng ngày
Thiền Sư hườn hồn tăng phước thọ, thủy hỏa công
đồng, hiệp nhứt quy nguyên. Kim Thiền Sư Tử,
Già Lam Quan Tể, Châu Xương đồng bay đến động
của Điểu Sào Thiền Sư. Ba vị phán quan bố cuộc
thu hồi bản thể cho Điểu Sào Thiền Sư, xác thịt
hườn nguyên, hồn vía da thịt xương máu được thu
hồi khí điển, khiến cho chúng có thể cử động
được. Ba vị phán quan đọc chú làm phép hoàn
242 | Đỗ Thuần Hậu
hồn. Lúc ấy trời đất trở nên tối sầm, bỗng người ta
nghe một tiếng nổ kinh hồn, và lửa chiếu sáng rực
một góc trời. Sau tiếng nổ, trời trong sáng trở lại.
Trên một tảng đá dưới triền núi, Điểu Sào Thiền
Sư cựa mình mệt mỏi, mở mắt. Sau một lúc định
thần, Thiền Sư than:
Trời ơi! Đây là đâu? Vợ con ta đâu? Sao ta yếu
đuối như vầy, biết làm sao sống được với đời. Ta
cảm thấy mệt mỏi và khát nước quá, nếu có nước
uống, có lẽ ta mới sống được. Ôi! Không lẽ Trời
Phật nỡ hại ta?
Trong khi đó Điểu Sào Thiền Sư nghe trên đầu
có tiếng gọi:
Điểu Sào Thiền Sư, nay ngươi đã qua tai nạn,
ngươi hãy mở miệng ta cho một giọt linh đơn để
ngươi thâu hồi ngươn khí và tức thì ngươi sẽ thấy
khỏe mạnh như xưa.
Điểu Sào Thiền Sư uống xong liền ngồi dậy
đảnh lễ ba vị phán quan. Ba vị phán rằng:
Điểu Sào Thiền Sư, ngươi hãy ở lại thạch động
Kì Sơn này, vì đây là phần của ngươi. Nơi đây
ngươi được hưởng hoa quả như thường lệ, đợi ta
về ngọc bệ biểu tấu cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế
để xem người phán xét thế nào?
Dứt lời, ba vị phán quan bay bổng trở về Thiên
Cung để chầu Thượng Đế. Một lúc sau ba vị quỳ
dưới bệ và tâu:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 243
Muôn tâu Thượng Đế, vụ Điểu Sào Thiền Sư
chúng con đã xét xử xong, Điểu Sào Thiền Sư quả
lắm tội, vì quá say mê tục lụy.
Ngọc Hoàng Thượng Đế phán:
Ta đã hiểu rồi, ba người hãy qua Huệ Quang
Cảnh chầu Quan Âm Bồ Tát và bạch cho ngài rõ
biết tự sự về Điểu Sào Thiền Sư.
Ba vị phán quan tuân lệnh bay thẳng qua Huệ
Quang Cảnh yết kiến Quan Âm và tâu rõ đầu đuôi.
Sau khi nghe ba vị trình tấu xong Quan Âm Bồ Tát
mô Phật phán:
Thôi chuyện đó để ta lo liệu, còn các ngươi hãy
trở về làm phận sự của các ngươi.
Đoạn Quan Âm xoay qua một bên gọi Kim
Đồng Tiên Trưởng đang ứng hầu mà nói rằng:
Kim Đồng Tiên Trưởng, ngươi hãy qua Bỉ
Ngạn, vào động Thạch Liêm Tiên bạch cho đức Di
Đà rõ, là Điểu Sào Thiền Sư đã hườn hồn và xin
đức Phật ngài dạy thế nào?
Kim Đồng Tiên Trưởng vâng lệnh bay thẳng
đến động Thạch Liêm Tiên vào bái yết Đức Di Đà
và tâu lại ngọn nguồn. Sau khi nghe tâu xong Đức
Di Đà mới phán rằng:
Vụ này ta giao phó cho Quan Âm Bồ Tát. Quan
Âm phải xuống trần, nơi Điểu Sào Thiền Sư phục
hồn để giao hoàn cho nó. Điểu Sào Thiền Sư đã
làm nên tội, đúng ra phải đền tội, nhưng Điểu Sào
244 | Đỗ Thuần Hậu
Thiền Sư là người có căn Tiên cốt Phật, nên Ngọc
Hoàng Thượng Đế chỉ phạt tội giảm khinh mà
thôi. Nhơn dịp Quan Âm giáng trần, cũng nên xem
xét dân sự, giảng dạy cho Điểu Sào Thiền Sư hiểu
rõ cách tu hành, và bảo nó phải đi hoằng hóa
chúng sanh mười lăm năm. Trong mười lăm năm
làm công quả và gắng chí tu hành, ta sẽ cho nó
phục hồi phước đức như xưa.
Kim Đồng Tiên Trưởng bái biệt Đức Di Đà bay
về tâu lại những lời truyền dạy của Phật Di Đà cho
Quan Âm Bồ Tát rõ. Nghe xong Quan Âm Bồ Tát
liền phán rằng:
Ngươi cùng ta phải xuống trần gian, nơi núi Kì
Sơn Thạch Động để giáo huấn Điểu Sào Thiền Sư
là người có căn Tiên cốt Phật.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 245
HỒI THỨ BA
Trời thanh mây tịnh, gió mát trăng trong, bỗng
có một luồng ánh sáng từ trên trời bay xuống thế
gian, nơi núi Kì Sơn Thạch Động. Điểu Sào Thiền
Sư đang mê ngủ, bỗng nghe trên không trung có
tiếng gọi:
Bớ Điểu Sào Thiền Sư, ngươi hãy mau tỉnh dậy
để ta dạy việc. Ta là Quan Âm Bồ Tát cùng Kim
Đồng Tiên Trưởng, vâng chỉ Ngọc Hoàng đến thức
tỉnh cho ngươi minh mẫn trở lại.
Điểu Sào Thiền Sư lồm cồm ngồi dậy quỳ
xuống đảnh lễ Quan Âm cùng Kim Đồng Tiên
Trưởng và bạch rằng:
Bạch hóa Quan Âm, con từ khi vào Niết Bàn bị
sa xuống đây, cũng nhờ có phép hườn hồn của
Tiên gia, cùng rượu bồ đào trường sanh nên con
cảm thấy thân thể da thịt xương máu của con đều
khỏe mạnh, còn tinh thần của con thì mơ hồ, u ám
cho đến đỗi con quên tiền căn hậu kiếp của con.
Nay con xin Quan Âm Bồ Tát khai hóa trí tuệ cho
con được đi từ chỗ tối đến chỗ sáng suốt.
Quan Âm Bồ Tát phán:
246 | Đỗ Thuần Hậu
Mô Phật, trước kia ta cũng từ chỗ tối đến sự
sáng suốt và cố công tu niệm nên nay mới được
làm Quán Âm Bồ Tát.
Kim Đồng Tiên Trưởng tiếp:
Nam Mô A Di Đà Phật, ta đây cũng nhờ Quan
Âm Bồ Tát khai trí, sự sáng suốt mở rộng đường
kinh lí soi sáng cho ta. Ta nhờ ánh sáng từ lư
hương đem lại hóa ra một chất vàng cực thanh,
cực tịnh biến hóa phép mầu. Nhờ sự linh diệu ấy
hộ vệ hào quang, rồi từ đó ta bắt đầu chuyên cần
tu luyện. Hào quang Kim Đơn ấy biến hóa ra một
chất Mâu Ni Châu vô cùng vô tận, thừa hành Phật
Sự, hộ vệ Tam Bảo ta mới được chức Kim Đồng
Tiên Trưởng Bồ Tát. Phổi ta thông đủ các nẻo,
điển hóa hào quang chiếu sáng soi thấu muôn
trùng từ thiên đàng cho đến thế gian, thật quý báu
vô cùng tận, sáng suốt vô biên. Hiện nay ta lo
công phu tập luyện đạo và theo hầu Quan Âm Bồ
Tát để thừa hành phận sự.
Quan Âm Bồ Tát và Kim Đồng Tiên Trưởng để
năm ngón tay trên trán của Điểu Sào Thiền Sư và
truyền điển sang. Một lúc sau, Điểu Sào Thiền Sư
đứng dậy đảnh lễ Quan Âm và Kim Đồng Tiên
Trưởng. Đoạn Điểu Sào nhìn lại thấy thân thể của
mình thật là dị tướng dị hình, mình là mình chim
gà đấy, chỉ có đầu là đầu người và nói được tiếng
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 247
người mà thôi. Điểu Sào Thiền Sư liền khóc rống
lên và thưa cùng nhị vị rằng:
Con rất lấy làm hổ thẹn, con khác hẳn với
người ở thế gian, con biết ăn làm sao, nói làm sao
bây giờ. Mọi người ở thế gian sẽ cho con là quái
vật, như thế con chắc không thể giao thiệp được
với ai. Vậy con xin Quan Âm có cách nào để giúp
con biến lại thành người và mong Quan Âm cho
con được biết tiền căn hậu quả của con như thế
nào?
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 249
HỒI THỨ TƯ
Gần trưa, trời thanh tịnh, gió mát thổi, cây
khua xào xạc chim hót líu lo. Quan Âm Bồ Tát mô
Phật nói:
Giờ đây đã gần đúng ngọ sẽ có vị cứu tinh điển
lành đem xuống các chim chóc trên rừng đồng ca
hát, khỉ đột cùng chim hãy hái bông bẻ trái đem
đến đây để ta dùng cơm phạm thực kinh hành.
Lúc đó Quan Âm Bồ Tát ngồi xếp bằng, bắt ấn
tam muội, ngồi tịnh một lúc, ngài mở mắt thấy
Kim Đồng Tiên Trưởng đứng hầu, Điểu Sào Thiền
Sư quỳ đảnh lễ. Quan Âm Bồ Tát phán:
Mô Phật ta bãi hầu, Điểu Sào Thiền Sư ngươi
hãy ngồi an tịnh, còn Kim Đồng Tiên Trưởng dùng
cơm trưa với ta.
Đoạn Quan Âm tiếp:
Ôi! Đời là khổ, ta hằng ngày công phu luyện
đạo bền chí siêng năng tu hành mới làm được vị
Bồ Tát, hà huống chi người ở trần gian phải chịu
cực khổ hơn ta biết mấy.
Quan Âm Bồ Tát và Kim Đồng Tiên Trưởng lấy
trái cây cho Điểu Sào Thiền Sư ăn và phán:
Điểu Sào Thiền Sư, con ăn hai trái cây này, âm
dương biến hóa, và con được mở đường trí tuệ,
250 | Đỗ Thuần Hậu
thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lí. Những lời
con thốt ra thông lí hơn người ở thế gian. Sự hiểu
biết của con rất sâu xa về đạo lí vô cực vô biên.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ nhị vị Bồ Tát và
bạch:
Nay con được ăn trái cây ngọt dịu, con cảm
thấy khỏe trong người, hơi thở nhẹ nhàng không
nặng như lúc trước. Sự sáng suốt thêm hơn,
nhưng còn tiền căn hậu quả của con xin Phật ngài
cho con được rõ đầu đuôi để con an lòng tu niệm.
Quan Âm phán:
Mô Phật! Điểu Sào Thiền Sư, con ăn trái thứ
nhứt con cảm thấy sao? Con nói cho ta rõ.
Điểu Sào Thiền Sư quỳ xuống bạch:
Con ăn trái thứ nhứt thấy thơm tho, ngọt dịu,
khỏe khoắn lạ thường.
Kim Đồng Tiên Trưởng tiếp hỏi:
Còn trái thứ hai thế nào?
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
Trái thứ hai ăn vào, con cảm thấy chua, cay,
chát, đắng, mặn, nồng, thêm sức lực mạnh bạo.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Trái thứ nhứt là tiền căn của con trước kia có
tu hành nên khi con ăn trái đó vào tánh con từ
hòa, khiêm tốn, lời ăn tiếng nói có tính Pháp Lí Vô
Vi và biết sơ quá khứ vị lai. Trái thứ hai bổ trí an
thần, thuộc về bổ tâm cùng bổ phổi, và chất chua
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 251
chua ngọt ngọt ấy thuộc về thân thể tiên thiên địa
quang, trái cật này ở phía bên mặt. Trái thứ hai,
khi ăn con cảm thấy cay, chát, đắng, mặn nồng, có
sức hùng dũng, đó thuộc về trái cật thận thủy bên
trái, gọi là nước sôi, nó thâu chất nóng thận thủy
chế ngươn hỏa, hợp với lá gan trên trung huỳnh
đình, lọc ra hóa thành ngươn hỏa nhưng chất cặn
bã lắng xuống bổ cho hỏa tam muội có sức mạnh
vô cùng vô tận, hung hăng thái quá, ác nghiệp vô
chừng.
Lúc ấy Quan Âm Bồ Tát mô Phật hỏi:
Điểu Sào Thiền Sư, ngươi có biết chưa?
Điểu Sào Thiền Sư quỳ đảnh lễ Phật:
Mô Phật, bạch Quan Âm Bồ Tát, nhờ truyền
đạo, nay con được thông hiểu một tí thôi, nhưng
nhờ Phật cho hiểu tiền căn hậu quả.
Quán Âm Bồ Tát mô Phật phán:
Điểu Sào Thiền Sư, con ráng nghe cho rõ tiền
căn hậu quả của con.
Đoạn Quan Âm Bồ Tát bảo Kim Đồng Tiên
Trưởng bay thẳng đến Ngọc Hoàng Thượng Đế xin
thỉnh một kinh phép gọi là Minh Cảnh Đài để xem
tiền căn hậu quả của Điểu Sào Thiền Sư. Kim
Đồng Tiên Trưởng vâng lệnh bay đến Ngọc Hoàng
đảnh lễ và trao ý kiến của Quan Âm Bồ Tát. Ngọc
Hoàng Thượng Đế hỏi:
252 | Đỗ Thuần Hậu
Đã lâu, Quan Âm Bồ Tát chưa thấy về chầu ta,
ngày đại hội chư Phật cũng sắp đến. Vậy Quan Âm
Bồ Tát phải cần mẫn làm việc ngày đêm để mau
trở về kịp ngày đại hội.
Thượng Đế phán xong liền đưa Minh Cảnh Đài
để Kim Đồng Tiên Trưởng đem về cho Quan Âm
Bồ Tát. Kim Đồng Tiên Trưởng bái biệt Thượng Đế
bay trở về dâng kiếng cho Quan Âm. Quan Âm
đảnh lễ Phật, đoạn dơ kiếng chiếu ngay mặt trời,
ngài thấy rõ tiền căn hậu quả của Điểu Sào Thiền
Sư và ngài truyền lại cho Điểu Sào:
Đây là tiền căn của ngươi, khi vận Niết Bàn
ngươi xuống thế gian đầu thai làm người. Trong
đời, ngươi học hành giỏi, làm quan chức, vợ con
sung túc đầy đủ, thu thập tội ác đã nhiều. Khi
ngươi lớn tuổi biết ăn năn hối lỗi, thức tỉnh ngươi
ăn chay niệm Phật tụng kinh lần chuỗi, bố thí, bắc
cầu, bồi lộ v.v... Nhờ sự cải lỗi ăn năn của ngươi
nên Hội Cộng Đồng chư Phật đã ân xá cho ngươi
tội giảm khinh chỉ còn phân nửa. Phật đã nêu nơi
bộ sổ tại Thiên Đình khoản cước chú: "Tội là tội,
còn thưởng là thưởng." Công tu của ngươi lúc
luyện đạo tinh thần, ngươi quả có thật tâm hành
đạo, nên Phật đã hiện trước mặt ngươi cho ngươi
quy y tam bảo. Hào quang minh châu phát kiến,
ngày đêm ngươi cố gắng say mê mùi đạo, dứt bỏ
sự đam mê trần tục, nhờ vậy Phật cho ngươi được
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 253
hườn nhứt trên bộ đầu, nào là ngũ uẩn thế cho
ngũ hành, còn đôi mắt cũng thừa tiếp khí hạo
nhiên của nhựt nguyệt tinh quang, ngươi trở nên
sáng suốt, được bay bổng Thiên Đàng. Đến Thiên
Đàng, ngươi lại ham mê Bồng Lai Tiên Cảnh, chơi
luôn không chịu giáng trần, nên ngươi mắc phải
tội bỏ thịt da xương máu, cơ quan ngũ tạng tan rã,
mấy vị này không được nhập vào bộ đầu, nhưng vì
mấy vị đó dưới sự tu hành truyền bá của ngươi,
nhờ âm dương bồi bổ cùng chất thán khí của địa
quả pha lẫn vào biến thành tứ quý. Vợ của ngươi
là Vía cũng có công tu luyện, nhưng phụ thuộc mà
thôi. Trước kia ở cõi Trời, vợ ngươi là nàng A
Hương được chức địa tiên thừa tiếp tiên thiên,
ngày đêm dạy xe sấm. Ngươi tuy tu một phần bộ
đầu, nhưng cũng được làm địa tiên thừa tiếp thiên
tiên. Về sau, hai người mải vui nơi Bồng Lai Tiên
Cảnh nên mới bị tội ngày hôm nay. Lúc trước
ngươi tên là Cam Lâm, em ngươi tên là Cam Chu
làm thần mưa gió, nhưng ngươi và A Hương lúc
làm việc trên cõi trời, mưa gió sấm chớp trễ nải,
nên bị tội đày đọa bất năng thần xuất. Hai ngươi
bị đày xuống trần tục rồi hai ngươi có tâm tu
hành, nên sau đó hai ngươi được lên Bồng Lai Tiên
Cảnh và mải mê ở trên ấy, không chịu trở về trần
gian, do đó hai ngươi mới bị tội.
Điểu Sào Thiền Sư quỳ lạy và khóc nói:
254 | Đỗ Thuần Hậu
Con đã biết tiền căn hậu quả của con rồi, nay
con xin Quan Âm Bồ Tát tha thứ tội cho con và
cứu nạn giùm.
Quan Âm Bồ Tát:
Mô Phật! Tại sao con lại khóc?
Điểu Sào Thiền Sư quỳ bạch:
Thân thể con dị tướng khác thường, con ăn
làm sao nói làm sao với ai cho được? Xin Quan Âm
Bồ Tát cứu nạn cho con để con được trở lại giống
người.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Điểu Sào Thiền Sư con! Con có biết ngũ tạng
của con là loài chim không mề, ăn rồi ỉa, không
đựng lại chút nào, như thế nghĩa là người vô thức
vô tri. Mắt tròn, tánh nóng nảy trợn dọc là tội thứ
hai. Mỏ nhọn mổ người, giận ai muốn giết, có ý sát
nhơn. Bộ dãy nơi cần cổ là tượng trưng cho ngươi
khi làm quan ăn hối lộ, muốn có của tiền đầy túi
đầy kho, ngươi là người vô nhân đạo, không kể
phải quấy. Mình mẩy của ngươi lông lá như chim
là sự tham lam thái quá thâu của cải đến lông
cũng còn tham lam không bỏ là tội thứ ba. Tánh
xấu của ngươi đã hiện ra trước mắt để chỉ cho mọi
người biết cái hậu quả xấu xa của con.
Điểu Sào Thiền Sư quỳ xuống bạch:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 255
Xin Quan Âm từ bi hỉ xả về tội lỗi hiện hành
của con và cho con trở lại làm người, thân thể như
vậy thật là xấu xa ô nhục quá.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Nếu ngươi muốn được như vậy, ngươi phải ở
lại trần thế hoằng hóa chúng sanh hai mươi năm
để đền tội. Nếu chịu như vậy ta sẽ tha thứ tội và
cho ngươi được hóa hình người.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ Quan Âm Bồ Tát:
Con xin quy y theo Phật, từ đây con ráng tu
hành cho tiêu tội phước, và cố gắng luyện đạo để
được trở lại Thiên Đàng.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Nếu con quyết chí tu hành, con phải bồi công
bố đức hoằng hóa chúng sanh hai mươi năm.
Trong thời gian ấy, ngươi phải chịu chua, cay,
chát, đắng, mặn, nồng của thế gian. Sau khi ngươi
hoằng hóa xong, ta sẽ cho ngươi trở lại Thiên
Đàng và làm chức Nguyện Nhàn Như Ý.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ Quan Âm Bồ Tát và
Kim Đồng Tiên Trưởng:
Xin nhị vị Bồ Tát truyền đạo, con tình nguyện
một lòng chơn tu, quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng.
Quan Âm lấy kiếng Minh Cảnh Đài để ngay
xoáy óc của Điểu Sào Thiền Sư, bố phép, bắt ấn
tam muội để ngay trên kiếng phép, đoạn ngài
256 | Đỗ Thuần Hậu
niệm Nam Mô A Di Đà Phật, xin Phật ngài cho
Phật tử nay được trụ nguyên hình làm người.
Quan Âm Bồ Tát biến hóa phép thần, tức thời
Điểu Sào Thiền Sư hóa hình người. Điểu Sào
Thiền Sư đảnh lễ Quan Âm, hớn hở bạch:
Ngày nay con không còn dị hình dị dạng là nhờ
ơn đức của ngài, xin Quan Âm ngài dạy cho con
căn bản tu hành, con thề tự nguyện nhứt tâm tu
hành cho đến mãn kiếp của con.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 257
HỒI THỨ NĂM
Mùa đông trời gió mát, trăng tỏ làu làu. Quan
Âm than rằng:
Ôi! việc đời thật khổ, mà làm tròn nhiệm vụ
đến nay đã gần cuối năm. Ngày Đại Hội Phật Đài
đã gần kề. Ta làm việc ngày lẫn đêm mà cũng
chưa xong nhiệm vụ. Hiện giờ ta còn phải thuyết
pháp, ta e cho Ngọc Hoàng Thượng Đế mở Đại
Hội, lúc ấy ta không trở về được, có lẽ ta bị tội bất
năng thần xuất với Thượng Đế.
Kim Đồng Tiên Trưởng bạch:
Sự cố gắng làm việc của chúng ta đến đỗi bê
trễ công phu luyện đạo, chư Phật đều biết, có lẽ
các ngài sẽ rộng lòng tha thứ. Mai đây xin Quan
Âm hãy truyền đạo cho Điểu Sào Thiền Sư và có lẽ
độ ba tháng là xong.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Ngươi hãy truyền bá cho đạo hầu và muôn
chim rằng ta muốn chúng dâng trái lúc sớm mai
này để ta làm lễ Phật giáo đạo cho Điểu Sào Thiền
Sư, hầu sau này Thiền Sư đi hoằng hóa chúng
sanh.
258 | Đỗ Thuần Hậu
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 259
HỒI THỨ SÁU
Trời vừa mọc, ánh sáng tưng bừng, chim đua
nhảy nhót, nào là khỉ đột vây đoàn hiệp lũ đua
nhau kiếm ăn. Khỉ đột và chim sực nhớ lại Kim
Đồng Tiên Trưởng bảo ta dâng bông trái cho Quan
Âm Bồ Tát. Chúng liền đi hái đủ loại hoa quả và lũ
lượt đến dâng cho Quan Âm. Quan Âm Bồ Tát
phán:
Thôi chúng bây được lui.
Đoạn Quan Âm tiếp:
Kim Đồng Tiên Trưởng và Điểu Sào Thiền Sư,
hai ngươi hãy nghiêm trang làm lễ hành sự, để ta
thuyết đạo cho Điểu Sào Thiền Sư.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ, Quan Âm Bồ Tát
phán:
Kim Đồng Tiên Trưởng, ngươi hãy đứng một
bên thừa hành phận sự cùng để nghe ta giáo hóa
từ hạ, trung, thượng thừa. Nhà ngươi tuy làm đến
bực Tiên nhưng ngươi không thể nào hiểu rõ đạo
giáo được, vì nguồn đạo vô cực vô biên, đến phẩm
nào thì sẽ bị ở phẩm ấy, bởi vậy có câu: "Không lên
cao sao biết thấp, còn không ở thấp sao biết được
cao siêu mầu nhiệm của nó?"
Quan Âm Bồ Tát mô Phật tiếp:
260 | Đỗ Thuần Hậu
Điểu Sào Thiền Sư, con hãy quỳ xuống niệm
Phật nghe ta giáo huấn.
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
Xin Quan Âm lấy đức từ bi hỉ xả tội lỗi của
con, phán cho con biết, dầu cực khổ thế nào, con
cũng nhứt tâm thiện niệm. Từ ngày con bị tội lỗi
đến nay, con ngu muội quá, con xin nghe lời Quan
Âm chỉ giáo.
Quan Âm Bồ Tát mô Phật nói:
Điểu Sào Thiền Sư nghe đây, Đời Đạo song tu,
con nhớ không?
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
Con ngu muội hơn trước lắm, xin Quan Âm cho
con biết sao gọi là Đời, sao gọi là Đạo?
Quan Âm Bồ Tát phán:
Đời là người trong thế gian phải có minh minh
đức, tân dân chí ư chí thiện. Cái đức trí quang
minh chánh đại, nơi tánh mình có, đến cái chỗ
lương tri lương năng mới là người thượng trí. Nếu
muốn làm người thượng trí trong đời, đức Khổng
Tử có dạy: "cách vật trí tri, chánh tâm tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ." Cách vật là phải ráng
công học hỏi trong khối óc của ngươi phải tìm tòi,
kinh nghiệm tất cả sự vật trong mọi khoa đều sái
quấy, ngươi ráng bình trí mới đạt được cái chân lí
trên cõi thế gian cùng vạn vật mới hơn người.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 261
Trí tri, bên trong tỏ sáng từ tâm bên ngoài và
hiểu sự vật cho cùng tột không còn nghi hoặc.
Thành ý, ý mình thành thật dứt hết các điều
dối trá cùng ngụy tà đối với mình thì nó cũng như
đối với người khác.
Chánh tâm, là mình ngay thẳng, không bị vật
dục lôi cuốn, không còn tà tư vọng tưởng, xử ký
tiếp vật thì chơn chánh của ta trở nên đứng đắn.
Tu thân, sau ta sẽ cắt nghĩa về nguồn đạo cho
rành rẽ.
Tề gia, con phải nhớ những điều căn cứ ở trên
không nên chênh lệch. Điểu Sào, ngươi phải nhớ
trí tri, thành ý chánh tâm tu thân thì trong gia
đình ngươi mới được phụ tá tử hiếu, phu phụ
thuận tùng, huynh hữu đệ cung. Nếu ngươi hiểu
rõ ý nghĩa những điều trên, ngươi mới có thể giúp
nước trợ dân. Tâm chánh cùng chí hướng chánh
trực, hùng dũng hy sinh giúp đỡ dân sự mới có thể
làm tròn sứ mạng con dân trong nước. Hễ dân yên
thì nước nhà mới thạnh trị quốc thới dân an.
Quan Âm Bồ Tát mô Phật tiếp:
Điểu Sào, con bình thiên hạ không phải dễ, từ
cá nhân đến gia đình quốc gia xã hội phải làm sao,
làm sao mới phải đạo làm người trong bổn xứ. Như
thế cũng chưa đủ, con còn phải trực tiếp tham gia
trong thiên hạ để cho tình tương thân tương ái đại
đồng được nẩy nở, và con phải mưu sâu kế dày để
262 | Đỗ Thuần Hậu
đem hạnh phúc hòa bình cho nhân loại lúc ở thế
gian, con có nhớ chăng? Nay con được hóa thân
làm người lần thứ hai, con phải là một người hiền
triết, con đừng u mê nữa. Nếu con còn phạm tội,
con sẽ bị sa đọa kì chót thành trùng dế, con phải
biết đây là lần chót, nếu không cải hối ăn năn, con
sẽ thành ma quỷ, không còn căn Tiên cốt Phật.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ Quan Âm than
rằng:
Ôi! Đời còn khổ huống chi là đạo. Con nhớ lại
đời con lúc trước, con ăn năn tự hối và con nguyện
cố gắng trở nên người lương thiện
Quan Âm Bồ Tát mô Phật phán:
Kim Đồng Tiên Trưởng cùng Điểu Sào Thiền
Sư, hãy nghe ta dạy đạo. Hết đời qua đạo gọi là
đời đạo song tu. Chúng ngươi có biết bản thể
chúng ngươi là thân xác tục, và trong đấy có
những gì?
Kim Đồng và Điểu Sào đồng quỳ lạy, xin Phật
Quan Âm lấy đức từ bi chỉ giáo cho chúng con
được hiểu nguyên căn để sau này hoằng hóa
chúng sanh.
Quan Âm Bồ Tát đọc chiếu và chiếu Minh Cảnh
Đài cho hai vị hiểu rõ chơn căn bản thể của hai
người. Khi ấy Kim Đồng và Điểu Sào nhìn trong
bản thể của mình thấy nào là phổi, gan, trái tim,
bao tử, gan một đùm nơi xương sống. Nhìn xuống
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 263
dưới lưng phía trong thấy có hai trái cật, nhìn ra
phía ngoài nơi rún thấy nào là lá lách, ruột, bọng
đái, ngoài thì xương thịt, máu, da, lông. Quan Âm
mới chỉ từng bộ phận và cắt nghĩa:
Đây là phổi, hai bên đều có. Phía trái là phổi
dương, phía mặt là phổi âm. Phổi này có chứa chất
nước chua mặn, chất trong đầy. Phổi xốp để chứa
những nước hơi làm cho sự hoạt động, ăn nói cùng
hô hấp thay đổi dưỡng khí. Chất lửa điển xanh, cốt
giác hơi gan.
Gan thì để chứa điển nóng có mật bên trái,
chứa chất nóng để sang điển nóng cho trái tim và
sản xuất chất nước vàng sang bao tử để tiêu hóa
vật thực. Chất lửa điển đó hơi xanh. Gan này phía
trái điển thật nóng do nơi mật điều độ. Phía mặt
rút nước ở dưới trái cật, đem nước lên chứa vào
phổi, làm cho nước sôi, phân phát cho tim.
Trái tim, chất nóng thuần túy, tùy theo phổi và
gan làm việc theo điển nóng của nó, rồi viện trợ
châu lưu trong bản thể xương máu thịt cho ấm áp.
Điển phổi và gan viện trợ trái tim có huyết điển
trắng, đỏ bầm để bổ túc cho xương da máu thịt.
Điển màu vàng hơi, làm việc không nghỉ phút
khắc, đốc xuất cho gan làm việc mẫn cán và cho
huyết thấm vào thịt châu lưu trong bản thể.
Trái cật bên trái có điển nước nóng, và thâu
hồi điển nhiều. Trái cật bên mặt chứa nước lạnh,
264 | Đỗ Thuần Hậu
trái tim đưa chất nóng xuống thì nước lạnh của
trái cật xáo trộn vào huyết và tiếp xúc với gan
phổi tim để cho chúng được nóng nhiều. Chất
nóng bên trái điển đỏ, bên mặt điển xanh.
Bao tử thâu tất cả các thứ điển trược vào trong
nó có nước màu vàng, nóng nhất trong thế giới
bản thể dùng để xáo trộn tiêu hóa thực phẩm,
đoạn lấy chất bổ thực phẩm bổ túc cho gan, gan
lọc chất bổ để thừa xúc hơi điển chạy qua phổi, rồi
phổi lọc đưa lên bộ đầu, đẩy điển bộ đầu bổ túc
cho mắt, mũi, miệng, tai là cơ quan ngũ tạng,
cũng gọi là bộ máy ngũ hành. Năm sắc lửa này hóa
ra một chơn điển năm sắc xanh, đỏ, trắng, vàng,
đen.
Quan Âm Bồ Tát tiếp:
Các ngươi hiểu chưa? Việc tu hành cần phải
trau dồi sửa đổi. Trước kia cha mẹ ngươi ở trần,
hóa sanh ngươi xác trần, có máy này làm việc theo
trần chỉ biết ăn ngủ ỉa mà thôi. Nhưng bộ máy ấy
cũng có một thứ điển tiên thiên, làm chủ bản thể
gọi là linh hồn. Một đơn vị điển thứ hai là điển
trung thiên hợp với hạ thiên làm thứ điển âm,
thành chơn điển gọi là Vía. Hồn Vía hợp lại duy
nhất gọi là Chánh Hồn Vương. Vía dùng để xoay
trở hoạt động tay chân phụ thuộc bên ngoài. Lúc
Niết Bàn đưa xuống, Hồn Vía là vợ chồng hợp nhất
giáng trần, quy vào bản thể. Khi Hồn Vía vào bản
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 265
thể được chia làm hai: Hồn ở giữa trái tim để sai
khiến khí điển vào bộ đầu. Những cơ quan ngũ
tạng và bộ đầu có ranh rấp chia đôi rõ ràng. Phần
Vía từ bao tử trở xuống tới rún gọi Tề Luân Hư
Cảnh, nó làm việc châu lưu trên tứ xa lộ, di
chuyển thôi thúc bản thể phút khắc không ngừng,
để nào da thịt máu phải hoạt động mau lẹ. Vì bản
thể con người là một Tiểu Thiên Địa. Ngoài ra có
hai con mắt là mặt trời và mặt trăng dùng để soi
sáng các nơi ở châu thân, trong ấy có tia sáng gọi
là Hà Sa, hóa ra vì sao bay lẫn trong địa cầu bộ
đầu rồi được thâu vào khối óc. Sự tu hành, nếu hai
ngươi muốn tu thì phải sửa đổi xác phàm tục để
được hóa ra một vị Tiên trên Trung Thiên hay trên
Tiên Thiên gọi là Phật. Các ngươi phải cố gắng
công phu luyện đạo vì người công phu là người thợ
tự sửa bộ máy bản thể của mình cho máy ấy làm
việc, lựa lọc thanh khí điển để sắp thành một vị
Chơn Như, rồi từ đó các ngươi từ từ luyện hằng
đêm, luyện tập công phu thì Hồn các ngươi được
lên phẩm Chủ Nhơn Ông. Trái lại nếu các ngươi
không tu thì Hồn ấy không được làm Chủ Nhơn
Ông, và lúc hai người thác Hồn ấy trở thành ma.
Quan Âm niệm Phật ba lần thâu kiếng Minh
Cảnh vào túi, đoạn kêu nhị vị mà phán:
Hai ngươi đã hiểu điển trong bản thể rồi chưa?
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
266 | Đỗ Thuần Hậu
Mô Phật, bạch Quan Âm nhờ đức sáng suốt của
Quan Âm con là Điểu Sào đã minh tánh, đã hiểu
được lời chỉ giáo của Quan Âm. Con xin ngài cho
con biết hiện giờ vợ và con của con ngày trước ở
nơi đâu?
Quan Âm Bồ Tát đáp:
Điểu Sào Thiền Sư ơi! Sao ngươi ngu dại như
thế? Đã nói là sáng suốt, sao ngu cũng còn ngu?
Ngươi là chủ bản thể, vợ con chỉ là phụ thuộc. Vậy
vợ con ở đâu, sao con không biết? Con hãy nhìn
xuống Tề Luân Hư Cảnh và nhìn kĩ xem ai đang
ngồi trong đó để thôi thúc các con của con như
xương thịt máu da và các dân sự phụ thuộc bề
ngoài là lỗ chân lông làm việc.
Điểu Sào đảnh lễ Quan Âm và bạch:
Con xin ngài làm phép cho con thấy vợ con của
con, được như thế con mới an lòng tỉnh trí thừa
hành phận sự tu hành hoằng hóa chúng sanh ở cõi
thế gian này.
Quan Âm Bồ Tát lấy kiếng Minh Cảnh Đài đưa
ra niệm chú, hiện ra một cô Vía rất đẹp.
Điểu Sào Thiền Sư nói:
Con đội ơn Quan Âm đã cho con được thấy mặt
vợ con. Nàng xinh đẹp quá, và tại sao mãi đến bây
giờ nàng vẫn còn tươi trẻ như thiếu nữ đang
xuân?
Điểu Sào Thiền Sư than:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 267
Chồng ở một nơi vợ một ngã, con không ngờ
chỉ ham vui một chút mà bị đọa không biết đến
bao giờ mới mãn kiếp?
Quan Âm Bồ Tát mới lần lượt gọi các con của
Điểu Sào Thiền Sư. Con thứ nhứt là xương, con
thứ hai là thịt, con thứ ba là máu, con thứ tư là da.
Chúng lần lượt xuất hiện để Điểu Sào Thiền Sư
nhìn cho tận mặt. Điểu Sào Thiền Sư nhìn bốn con
bằng trang nhau như hột gạo cội. Quan Âm tiếp:
Trước kia con là Điểu Sào Thiền Sư mắc phải
tội nên dù ngày nay con của ngươi được xum họp
vào đây, nhưng không được nhìn thấy mặt nhau,
vì lỗi của con gây ra. Vợ và con của ngươi phải
chịu làm việc mãi không ngưng và không được
nghỉ.
Điểu Sào Thiền Sư khóc mà rằng:
Xin Quan Âm cho cha con chồng vợ của con
được sum họp.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Điểu Sào, sao con ngu quá, ta phải làm sao cho
con minh tánh được, ngươi muốn họp mặt với
nhau thường ngày thì ngươi phải ráng tu hành,
ngươi hiểu chưa? Tử tội làm việc cơ sở, giam cầm
có nơi. Bản thể như một cái nhà, như việc nước,
nên gọi là nhà nước. Ví dụ, bản thể là nước hay là
Tiểu Thiên Địa mỗi chỗ mỗi nơi đều có công ăn
việc làm, lương phân phát đầy đủ, hễ ăn thì phải
268 | Đỗ Thuần Hậu
làm việc, không thể bỏ phế công việc để họp mặt
nhau được. Hiện nay con là Điểu Sào Thiền Sư
phần Hồn, nếu con tu con sẽ là Chủ Nhơn Ông,
hay là Tổng Thống, sai khiến cơ quan ngũ tạng
hóa ra ngũ uẩn làm chủ trong bản thể của con, và
nếu con muốn sum họp với vợ con, thì con phải tu
để đền tội lúc trước xong con mới được quy
nguyên hợp nhứt.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ, Quan Âm Bồ Tát
than:
Con bị phạm tội quá nặng, không biết đến
ngày nào con cùng các con của con trở lại Thiên
Đàng.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Vì tiền căn hậu quả của ngươi, nên ngươi hãy
ráng tu để quy nguyên hợp nhứt và đó là quy
nguyên.
Điểu Sào Thiền Sư quỳ lạy than:
Tội lỗi như vậy biết gỡ làm sao xong? Đến bao
giờ mới mãn kiếp?
Quan Âm Bồ Tát phán:
Ngươi ráng công phu luyện đạo, bỏ mùi trần
tục thì chẳng bao lâu tội con sẽ được tha thứ. Nếu
trái lại con còn mê trần, nhiễm những thói xấu
như tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục thì tội của con
càng nặng hơn, thì có lẽ con không bao giờ trở lại
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 269
Thiên Đàng. Vậy con hãy nghe ta mà ăn năn thức
tỉnh tu hành.
Điểu Sào Thiền Sư bạch:
Bạch Quan Âm, con đã bị tội rồi, lại bị tội nữa
là sao?
Quan Âm đáp:
Trước kia con ở Thiên Đàng, bị tội lỗi sa về
dương thế là kì thứ nhất, kể từ ngày con trở nên
người trần gian. Nếu con làm tội nữa thì con mắc
tội thêm hơn, và phải bị nghiệp quả của con làm
ra.
Điểu Sào Thiền Sư hỏi:
Tiền căn nghiệp chướng ra sao? Xin Quan Âm
cho con được biết?
Quan Âm Bồ Tát đáp:
Hễ con làm tội gì thì sanh nghiệp ấy. Ác hành
khổ khảo, con nhớ chưa ? Ví như con làm khổ cho
người ở thế gian thì ngày con gần mãn hạn (chết),
trước hết con sẽ bị khổ khảo như lúc con làm cho
người ấy, vì thế ta tu hành để cho minh tánh hiểu
phước tội hơn người và cải ác tùng thiện. Đây ta
thí dụ cho ngươi rõ là sự tích Mục Liên Thanh Đề
tại thế gian mà kinh Nhã Thiên đã làm đó.
Điểu Sào Thiền Sư :
Từ đây con hết sức tu hành, không dám làm
điều tội lỗi. Tiện đây con xin Quan Âm cho con
270 | Đỗ Thuần Hậu
một pháp danh, và một cái quy y thơ phái của nhà
Phật.
Quan Âm Bồ Tát:
Cha chả, ngươi ở thế gian, sanh ở trần thì phải
trần tục, tội lỗi đã chưa đền, lại còn xin tờ giấy
làm bằng, thật là tham lam quá đỗi. Đây Điểu Sào
nghe ta thuyết pháp cho một lần nữa.
Tên con trước kia là Điểu Sào Thiền Sư, nghĩa
là con có ổ. Con tham, sân, si, thái quá, rồi sau đó
con ăn năn cải hối và tu hành được Phật công
nhận một phần, linh hồn con được sơ thừa trung
phạm. Lúc đó con không hiểu chữ li gia cắt ái ở
thế gian, nên con bỏ nhà cửa sự nghiệp đi tu, đó là
một điều lầm lớn, nhưng nhờ con có chí tâm công
phu luyện đạo, nên được xuất hồn đến chốn Bồng
Lai, rồi mê vui nơi ấy con quên bản thể là cái nhà
của con ở từ khi con giáng thế xuống trần, và hồn
con nương vào bản thể đó để làm việc. Trong bản
thể nào là da, thịt, xương, máu, những thứ đó là
những người trong cốt nhục tương tàn của con.
Con tu mà quên hết, bỏ bê vợ con, thì tội lỗi của
con càng nhiều. Con phải biết, nếu con tu thì da
thịt xương máu, con phải dạy cho chúng nó tu. Từ
bên trong đến bên ngoài, được làm một vị Tiên,
hay một vị Phật khổ lắm con ơi. Hễ tu thì phải sửa
đổi, lừa lọc, chất trược hóa thanh, dày công gắng
chí tu hành, mới có thể thành chánh quả, khổ ơi
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 271
rất khổ. Vậy từ đây, con hãy tu tất cả bản thể, nào
da, thịt, xương, máu, lông, để chúng trở thành
chánh pháp quy y lên đảnh lễ Phật. Nay con xin ta
cho pháp danh để thay tên Điểu Sào Thiền Sư, vậy
ta sẽ gọi tên con là Sãi Vãi.
Điểu Sào Thiền Sư đảnh lễ xin quy y tam bảo.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Con ráng tu đến khi con được xuất hồn lên
đảnh lễ Phật lúc đó con mới được quy y tam bảo.
Hồn của con là Tinh, Khí, Thần hợp nhứt lại.
Điểu Sào Thiền Sư mừng rỡ đảnh lễ Quan Âm
xin nhận tên SãiVãi.
Lúc ấy Quan Âm Bồ Tát mô Phật phán:
Sãi Vãi ơi! Từ đây con ráng tu hành, đừng phí
bỏ thì giờ quý báu, siêng năng niệm Phật ngày
đêm, ráng đem về một điểm chơn như hườn nhứt.
Lúc ta thuyết pháp dạy đạo, con có hỏi làm sao để
con thấy mặt vợ và các con. Điều đó ngày sau con
sẽ làm phải một tội, con đã không thông hiểu câu:
“tình trong bốn bể” của thế gian, vì con là chồng
cha, không biết vợ con là ai? Ở nơi nào?
272 | Đỗ Thuần Hậu
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 273
HỒI THỨ BẢY
Quan Âm Bồ Tát than rằng:
Đã gần tới rằm tháng tám, trung thu nguyệt
lãng, lúc này các vị Tiên được chầu Thượng Đế, ngao
du sơn thủy, vui vẻ biết bao! Còn ta làm việc dưới
thế đã lâu, mà chưa được trở về chầu chư Phật cùng
Thượng Đế để trình tấu cho các ngài rõ về vụ Điểu
Sào. Thôi buồn nói vậy, chớ ta cũng ráng làm việc
cho xong cũng chẳng muộn chi.
Kim Đồng Tiên Trưởng đảnh lễ bạch rằng:
Con cũng tiếp tục thừa hành phận sự bên Quan
Âm, con nguyện làm việc chóng xong để thày trò
chúng ta mau trở về Thiên Đàng cảnh Phật.
Hoàng hôn buông rũ, mặt trời chen lấn, bầu trời
trở nên xám đục, chim chóc kêu nhau về tổ, vượn
chuyền bồng con kiếm nơi ẩn dạng.
Quan Âm phán:
Thôi, cát y kì phận, Sãi Vãi ngươi hãy trở về
động, còn ta phải trở về Thiên Đình, nơi am tu để
săn sóc cho Nhị Thập Bát Tú, mai này ta sẽ giáng
trần, và dạy thêm cho Sãi Vãi.
Dứt lời, Quan Âm và Kim Đồng bay trở về Thiên
Cung.
274 | Đỗ Thuần Hậu
Ngày mùng 10 tháng 8 rạng ngày 11, mặt trời
vừa mọc, ánh sáng tưng bừng, trời thanh mây tịnh,
gió núi ngàn phương, đem lại mát mẻ trong lành.
Trên một vầng mây đen bên cảnh trời lơ lửng bay
xuống, Quan Âm và Kim Đồng đang ngự trên ấy,
giáng trần.
Sãi Vãi đảnh lễ hai vị Bồ Tát. Quan Âm Bồ Tát
mô Phật phán:
Từ ngày ngươi thọ giáo ta đến nay, ngươi đã tỉnh
trí an thần, và thấu hiểu bản thể và nhiệm vụ của
ngươi ra sao?
Sãi Vãi bạch:
Nhứt khiếu minh, vạn lí thông, con hiểu rất
nhiều, nhưng con cũng nhờ Quan Âm cùng Kim
Đồng thuyết pháp dạy đạo thêm cho con nhờ.
Kim Đồng Tiên Trưởng hầu một bên Quan Âm.
Quan Âm đảnh lễ Phật nói:
Sãi Vãi ơi! Ngươi có biết tên Sãi Vãi bửu danh của
ngươi là nghĩa gì không? Lúc trước ngươi có làm gì,
đâu có tên cùng chức vị. Trước kia, ngươi là một
triệu phú tham, sân, si làm giàu bất chánh, sau đó
ngươi ăn năn cải hối, cúng chùa, học phép tắc với
Địa Tiên, ngươi theo thiền lâm tu trì, nhưng ngươi
lại bị trần thế lôi cuốn, say mùi trần tục, ham mê tửu
sắc tài phiến quá độ, nên Hòa Thượng đặt cho ngươi
pháp danh Sãi Vãi. Sãi Vãi, ta chỉ nghĩa cho biết:
Nhân chữ này là vợ chồng ngươi cũng chưa bỏ,
thế nên người ta cho vợ chồng ngươi là nhơn đức,
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 275
nhưng trong thâm tâm ngươi dẫy đầy tội lỗi, tham
sân si hỉ nộ ái ố dục. Ngươi lấy nhơn đức bề ngoài đó
gạt gẫm của thiên hạ. Ngươi mưu mô đủ thứ để cướp
tiền và tham lam sắc đẹp, thấy thế hòa thượng mới
thêm một sổ chánh giữa chữ Nhơn để trở thành chữ
Sĩ hay là chữ Sãi , nghĩa là ngươi vô chùa thấy cô
ni sắc đẹp, lấy tiền mua chuộc, phải tội si mê, nên
ngươi không hiểu, là người trong đạo, thật là ô danh
nhục nhã cho ngươi biết mấy. Còn chữ Vãi nghĩa
là khi vô chùa được ngộ đạo, lúc ấy ngươi giác tánh
hiền lương, biết tội lỗi và ăn năn hối lỗi rất nhiều,
nhưng lúc về nhà ngươi quên hết tâm đạo. Hai thảo
đầu ba ngạnh bổ xuống là chữ Dương ấy là
thường ngày ngươi thả rêu xóm làng, thấy con người
có sắc đẹp ngươi ve vãn mua chuộc, làm mất trinh
tiết của người cho nên Hòa Thượng của ngươi đặt
cho bửu danh là Sãi Vãi. Mặc lòng vậy, ngươi hằng
ngày cũng còn ham tình ái sắc dục. Ngươi thương
bao la, và đó là "tình trong bốn bể ."
Sãi Vãi bạch:
Con nhận thấy, tên này thật là ô danh, tủi nhục,
nhưng con là người tu hành mà bị mang bốn chữ
“tình trong bốn bể” thì làm sao giải thoát để thành
Tiên Phật được?
Quan Âm phán:
Ngươi mắc phải một tội nữa, ngươi có biết
chăng? Khi ngươi còn là Điểu Sào Thiền Sư, ngươi là
276 | Đỗ Thuần Hậu
con chim gà dãy, mang đầy ô trược, là tại ngươi
tham lam của người quá đỗi, ngươi ăn cho đầy bụng,
rồi giựt của người để dành vào túi. Khi ngươi tu được
điểm nhứt, ngươi xuất hồn dạo cõi thiên cung chỉ có
một bộ đầu, còn mình là điểm thứ hai, tay chơn là
điểm thứ ba, ngươi bỏ lại thế gian là làm bại hoại
bản thể. Tội thứ nhứt cùng hai đấy là ba tội. Ngươi
đã làm ba tội, nhưng Phật ngài giảm khinh cho
ngươi, tu không hiểu chữ li gia cắt ái, ngươi làm
Khổng Tử dạy đời, ngươi đã có vợ con gia đình mà
ngươi lại vô chùa tu, ngươi bỏ phế nhà cửa, không
nuôi vợ con, lại còn bày ra cất thất để tính phá tiền
của, ngươi ham đạo mất đời.
Sãi Vãi quỳ bạch:
Điều mà bỏ gia đình là tội thứ nhứt, đối với đạo ở
đời của Đức Khổng Tử. Ở đời ta phải tu theo đời,
nghĩa là phải có nhân nghĩa, kế nghiệp dòng giống
của ông bà. Bạch Quan Âm, khi xưa con có vô chùa,
đi đi về về, chớ con không bỏ nhà hẳn.
Quan Âm Bồ Tát than:
Ôi! Ngươi ở trần sao ngu quá, con không biết vợ
yếu con thơ do con gây ra phải nhờ con nuôi dạy, thì
sao con lại bỏ đi để cho da thịt xương máu của con
hoang vu, luyện pháp tà đạo, đánh lộn với nhau làm
mùa màng thất lạc, nhiễu hại nhân dân. Như vậy
khác nào con làm vua mà bỏ phế việc nước để cho bá
quan loạn trào, nhân dân thống khổ.
Sãi Vãi bạch:
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 277
Bạch Hóa Quan Âm, trước kia con bỏ nhà, con
hiểu là có tội, nhưng nay con có nhà nào để bỏ ?
Quan Âm Bồ Tát phán:
Sãi Vãi ơi! Ngươi đã tu liều, lí sự hiểu nhiều, bỏ si
mê sao còn ngu như thế? Thôi Sãi Vãi, ngươi mau
cúi xuống.
Đoạn Quan Âm bảo Kim Đồng Tiên Trưởng lấy
roi phết cho Sãi Vãi ba roi để trừ tội tam đồ.
Kim Đồng Tiên Trưởng vâng lệnh đả Sãi Vãi ba
roi nẩy lửa.
Sãi Vãi đứng dậy đảnh lễ Quan Âm và bạch rằng:
Con bị ba roi điển tan xương nát thịt, đau nhức
không thể tưởng tượng được.
Quan Âm Bồ Tát phán:
Nay con hiểu tội của con chưa?
Quan Âm bảo Sãi Vãi quỳ ngay trước mặt, rồi dạy
Kim Đồng Tiên Trưởng thắp ba cây nhang đưa cho
Sãi Vãi cầm để trước mặt và bảo Sãi Vãi niệm Phật
ba lần. Đoạn Quan Âm nói lớn:
Kim Đồng hãy dọi trên đầu nó ba cái cho nó thọ
tam cú.
Sãi Vãi bạch:
Con tu là tu thân, từ trong bản thể con làm ra,
Quan Âm đã dạy con không nên lấy cái gì vật chất
ngoài đời dùng để tu hành. Nay con lại cầm ba cây
nhang và lãnh ba dọi trên đầu gọi là tam liều chăng?
Quan Âm phán:
278 | Đỗ Thuần Hậu
Tu là tu Pháp Lí nhà Phật, tu là sửa đổi bản thể
của ta. Tâm tức Phật, Phật tức tâm. Ngươi ngu thái
quá thì hoằng hóa thiên hạ sao được? Tánh ngươi hễ
có đông người là rủ nào tiệc tùng ăn chơi phế bỏ gia
đình, bày ra chung tiền cất nhà hội nghị để giảng
đạo hoặc chùa chiền am tự.
Sãi Vãi bạch:
Bạch Quan Âm, ngài nói quá dông dài, con không
làm sao biết được.
Quan Âm phán:
Ta nói dông dài là trước kia ngươi nhiều chuyện,
nói thêm thừa láo khoét, ngồi lê đôi mách.
Sãi Vãi bạch:
Con đã quỳ ngót ba tiếng đồng hồ, đầu gối con bị
sưng không thể đứng nổi, xin Quan Âm tha thứ cho
con.
Quan Âm nói:
Ta từ bi hỉ xả cho ngươi, từ rày ngươi ráng nhớ,
kẻo mà sa địa ngục hối không kịp.
Đoạn Quan Âm tiếp:
Sãi Vãi ơi! Khi ngươi xuất hồn, ngươi mê cảnh
Bồng Lai vui thú, không chịu trở về nhà là bản thể
của ngươi cho đến đỗi tan xương nát thịt, nay đầu
gối ngươi sưng, tan xương nát thịt, nhức nhối cùng
mình, đó là ngươi bị nghiệp quả trước kia ngươi đã
gây ra. Tội ngươi đáng thác ra ma. Ba điểm nhang ấy
là vợ con ngươi quỳ đảnh lễ đưa hồn ngươi xuống âm
phủ để chịu tội từng làm ma và bị vật chất lôi cuốn.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 279
Sự hiểu lầm của con thật là tai hại. Bản thể là cái
nhà để cho linh hồn và vía (vợ con) ở đó, cũng là trại
giam của chúng con. Khi chúng con thác thì bản thể
này rã tan thành đất, còn sự sản ở dương thế con
cũng phải bỏ lại tất cả. Vậy con ráng suy xét để đừng
lầm lẫn Sãi Vãi ơi! Ta bảo ngươi tu không tốn đồng
xu cắc bạc nào, là vì chính ta cũng vậy. Ta tu thân,
cải tánh, dưỡng dục quần sanh. Nếu tu, ta sẽ tránh
được bịnh tà xâm, thương hàn sốt rét, và các chứng
bịnh ít ít thì được hết dứt khỏi tốn tiền thuốc. Theo
Pháp Lí, tu là thâu dưỡng khí làm cho bản thể mát
mẻ, sung sướng, bồi bổ tinh thần, người trở nên đẹp
vui tươi. Pháp Lí này theo khoa học huyền bí của
Đức Phật. Ta cứ công phu luyện đạo, tự nhiên ta sẽ
thức tỉnh phân biệt chánh tà thông tri thiên hạ, hiểu
được tâm tánh của mỗi người. Sự quý báu của phép
công phu là khi con ngồi công phu có Mâu Ni Châu,
viên ngọc quý của con chiếu sáng, và con được xuất
hồn lên cõi trời. Nhứt khiếu thông, vạn lí minh, tự
nhiên con hiểu, và tự cải ác làm lành. Con thâu điển
khí thanh trên trời làm cho thân thể mát mẻ, trí não
sảng khoái, con sẽ không giận ai, và tránh xa những
điều quấy bỉ ổi ô nhục, nhớ nghe con. Con đừng
mượn vật chất bề ngoài để tu hành, làm cho hao tài
tốn của, bỏ phế không nuôi vợ con tại trần mà bị tội.
Con đừng vì chữ dưng cúng thần, cúng sãi để chuộc
tội và được phù hộ, ấy là sự mê tín dị đoan. Và con
280 | Đỗ Thuần Hậu
nên nhớ, người tu không ham mê trần tục, tránh nơi
đô hội, vinh sang cùng chức quyền ăn trên ngồi
trước. Đây ta chỉ cho con biết đã tu mà còn chức
quyền vinh sang, đó là còn bị nhiễm trần. Nhà Phật
chỉ là nghề chuyên môn của ông, chớ nào có chức
chi. Người tu không ham chức quyền ở thế gian,
người chán chê phú quý không cần sự nghiệp, người
chỉ muốn ở Thiên Đàng chung vui với chư Tiên chư
Phật, nên gọi là Bần Đạo. Chữ Bần Đạo là không kể
sự nghiệp của cải ở thế gian. Chữ Bần Đạo là bỏ
không cần, người tu than rằng ít phước đức là Bần
Đạo. Tu bền bỉ, cố gắng luyện cho đến khi được dĩ hạ
trung thượng đến không không trên cõi trời. Của cải
ở thế gian đều bỏ, bản thể chết thành đất, nên người
tu hành không tham sanh quý tử. Pháp Lí nhà Phật
nói rằng: "Phật tức tâm, Tâm tức Phật" nghĩa là ai tu
nấy hưởng, Kinh nhà Phật đã có câu: “Mùi phú quý
như làn xa mã, bả vinh hoa như thể phù vân.” Sãi
Vãi có biết chăng? Sự đời đối với ta nào có ra chi. Ta
làm lấy để sống qua ngày, ta đâu có cần tiền. Sãi Vãi
ơi! Pháp Lí ngay thẳng, nó cứu nạn cho ngươi, nó
giúp ngươi có nhà êm ấm, nó khiến cho ngươi trong
gia đình vui vẻ, chung lo mọi việc. Cái tánh chê bai
ngạo nghễ là tánh của Sãi Vãi phải không? Thôi Kim
Đồng, lấy roi điển khí, biểu Sãi Vãi cúi ngay ngắn,
đánh trên đầu thẳng xuống tới ngay đít, theo luồng
lửa tam muội sau xương sống, ba roi cho ta.
Kim Đồng phết Sãi Vãi ba roi nháng lửa.
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 281
Quan Âm Bồ Tát nói:
Sãi Vãi, từ đây con phải tu hành, nhớ lời ta dặn
đừng sanh thói xấu. Nếu con muốn tu thì cứ tu, còn
muốn ra trần thì cứ xuất trần, chớ con đừng lấy cái
đạo mà tạo cái đời, lợi dụng cái đạo mà làm ăn. Sãi
Vãi ơi! Ngươi hãy nghe thuyết pháp đây. Ta đánh ba
roi là có mục đích làm cho Sãi Vãi dứt bỏ tánh xấu
theo trần tục. Muốn tu thì ngươi cứ tu đi, và từ đây
ngậm mồm co lưỡi đừng nói chuyện bậy bạ theo trần
để rồi mê trần.
Sãi Vãi bạch:
Từ đây con nguyện một lòng theo Phật ăn năn
hối cải không dám sái quấy nữa.
Quan Âm Bồ Tát tiếp:
Đạo nào cũng có pháp môn riêng, nhưng con lại
tưởng Phật nào như Phật nấy, môn nào như môn
nấy, nên con lấy môn này đem lại môn khác, làm
như vậy con đã lầm lạc thái quá. Pháp Lí là pháp con
tu theo điển của Phật Thích Ca và Di Đà, nó cũng là
một vị thuốc linh nghiệm dùng trừ tuyệt bịnh tham,
sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, dục. Hiện giờ con bị bịnh tham
sân si, vậy con nên luyện đạo công phu, thì từ từ
bịnh con sẽ dứt. Sãi Vãi ơi! Con nên hiểu trong Phật
gồm có Văn Phật và Võ Phật. Văn Phật là pháp môn
văn để trừ bịnh tham sân si hỉ nộ ái ố dục. Võ Phật là
sự phò hộ chiếu bịnh mà cúng quảy, những sự linh
282 | Đỗ Thuần Hậu
diệu, muốn chi được nấy theo thế gian. Mặc dù vậy,
nhưng những Võ Phật là tà đạo đó ngươi.
Sãi Vãi bạch:
Bạch Quan Âm, ngày nay con đã thông hiểu và
ghi nhớ Pháp Lí trong tâm. Con nguyện từ đây cố
gắng tu hành, hoằng hóa chúng sanh. Con đã cải
tánh diệt danh, từ nay con xa lánh nào tụng kinh
siêu độ, chuông mõ, bồ đề, để một lòng theo Pháp Lí
nhà Phật. Con nhớ lại vợ con thì ở lại dưới Tề Luân
Hư Cảnh, còn con lại ở trái tim và làm việc trên bộ
đầu, bị ranh rấp bởi màng bí mật, nên con không thể
thăm vợ con cùng da, thịt, xương, máu cho được.
Quan Âm Bồ Tát nói:
Con là môn đệ của Phật, gọi là Phật Tử, thì nào
da, thịt, máu, xương, lông của ngươi cũng là Phật Tử
nốt. Trái lại nếu con làm tội lỗi thì những thứ đó
cũng là người phạm tội. Con nhớ vợ con ở Tề Luân
Hư Cảnh, trong đó có bốn biển gọi là Tứ Diệu Đế, rồi
con lại nhớ da thịt, xương, máu, là con của con, và
con nguyện đi hoằng hóa chúng sanh, con được như
vậy là con đã ăn năn cải hối lỗi lầm rồi. Sãi Vãi, con
có biết chúng sanh là ai không? Chúng sanh ở trong
bản thể của con đó là bốn mươi tám ngàn hai trăm
năm mươi lỗ chơn lông là dân sự biết tu theo. Lục
căn lục trần ngó thấy ánh sáng của Chủ Nhơn Ông
trên bộ đầu rọi xuống cũng tu theo. Trong Tề Luân
Hư Cảnh có Cô Tiên (vợ con) phụ tiếp điển, truyền
bá bên ngoài cho da, thịt, xương, máu, lông, đó là
Tình Trong Bốn Bể (Điểu Sào Thiền Sư) | 283
dân sự cùng các con của con. Chữ tình trong là vợ
của con ở trong Tề Luân Hư Cảnh cũng gọi là Cô Vía.
Còn da thịt xương máu là do huyết chảy châu lưu,
gọi là bốn bể, thừa tiếp khí điển bên trong và bên
ngoài. Sãi Vãi, con thấy chưa? Tứ Diệu Đế gọi là bốn
bể hay là "tình trong bốn bể."
284 | Đỗ Thuần Hậu
VÔ VI
Ấn Tống và Kính Biếu
Muốn thỉnh kinh sách hay phát tâm ấn tống,
xin liên lạc:
VÔ VI
Điện thư: kinhsachvovi@gmail.com
Printed for Free Distribution / Not For Sale
website: http://www.voviphatphap.org
Các sách xuất bản:
- Chơn Kinh (Lương Sĩ Hằng).
- Địa Ngục Du Ký (Đào Mộng Nam & Lương Sĩ Hằng).
- Luân Hồi Du Ký (Đào Mộng Nam).
- Nguyên Lý Tận Ðộ (Lương Sĩ Hằng).
- Nhân Gian Du Ký (Đào Mộng Nam).
- Kinh A Di Đà (Đỗ Thuần Hậu).
- Phụ Ái Mẫu Ái (Lương Sĩ Hằng).
- Sách Nấu Ăn Dưỡng Sinh Ohsawa (Thu-Ba).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm '96 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm '97 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm '98 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm '99 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm 2000 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm 2001 (Lương Sĩ Hằng).
- Tham Gia Phát Triển Trí Tâm 2002 (Lương Sĩ Hằng).
- Thiên Đường Du Ký (Đào Mộng Nam & Lương Sĩ Hằng).
- Tuyển Tập Thư Từ Lai Vãng 1980 (Lương Sĩ Hằng).
- Thư Từ Lai Vãng '96 (Lương Sĩ Hằng).
- Thư Từ Lai Vãng '97 (Lương Sĩ Hằng).
- Thư Từ Lai Vãng '98 (Lương Sĩ Hằng).
- Thư Từ Lai Vãng '99 (Lương Sĩ Hằng).
- Thư Từ Lai Vãng 2000 (Lương Sĩ Hằng).
- Thực Hành Tự Cứu:
Pháp Hành Thiền Đời Đạo Song Tu (Lương Sĩ Hằng).
- Thượng Đế Giảng Chân Lý (Kim Thân Cha).
- Tôi Tầm Đạo (Hồ Văn Em).
- Tuyển Tập Đỗ Thuần Hậu (Đỗ Thuần Hậu).
VÔ VI
Ấn Tống và Kính Biếu
VÔ VI
tuyển tập sư phụ đỗ thuần hậu
Tin tức liên quan
- 29-05-14 16h15 ngày 29/05: Mở máy chủ thử nghiệm thứ 3
- 29-05-14 Sáp nhập 10 máy chủ vào ngày 04/06
- 29-05-14 11h00 ngày 29/05: Khai mở máy chủ thử nghiệm 1 & 2
- 28-05-14 Tải phiên bản thử nghiệm ngay hôm nay!
- 28-05-14 18h00 ngày 30/05: Dương Thu Thảo giao lưu cùng nhân sĩ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét